Cổng thông tin điện tử tỉnh an giang

 

Quyết định - Quy Hoạch - Kế Hoạch

ban hỗ trợ doanh nghiệp tỉnh an giang

0296.3.854.164

thuthuchanhchinh@angiang.gov.vn
bản đồ địa giới hành chính

Báo cáo Tình hình kinh tế - xã hội tháng 02 năm 2018

02/03/2018

Xem với cở chữ : A- A A+

A. TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THÁNG 02 NĂM 2018

I. Phát triển kinh tế

1. Lĩnh vực nông – lâm – thủy sản

1.1. Nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp trong tháng Tết diễn biến thuận lợi, lúa màu vụ Đông Xuân phát triển tốt; công tác phòng cháy chữa cháy rừng được quan tâm đúng mức; giá cá tra đang có lợi cho người nuôi nhờ nhu cầu thị trường cao trong khi nguồn cung không đủ cung ứng; riêng đàn chăn nuôi gia súc - gia cầm do giá cả tiêu thụ chưa có dấu hiệu khởi sắc nên quy mô đàn có xu hướng giảm. Cụ thể:

* Trồng trọt:

Tính đến ngày 08/02/2018, vụ Đông Xuân 2017-2018 toàn tỉnh đã gieo trồng được 250.432 ha, đạt 97,46% kế hoạch và giảm 1,34% (giảm 3.408 ha) so cùng kỳ, trong đó: cây lúa gieo trồng được 234.410 ha, đạt 99,12% kế hoạch, giảm 0,61% (giảm 1.450 ha) so cùng kỳ và hoa màu các loại gieo trồng được 16.022 ha, đạt 78,34% kế hoạch, giảm 10,89% (giảm 1.958 ha) so cùng kỳ. Tiến độ xuống giống lúa và hoa màu chậm hơn 3.400 ha so với cùng kỳ và không đạt theo khung thời vụ khuyến cáo.[1]

Cùng thời gian này, đã thu hoạch được 1.415 ha lúa Đông Xuân sớm, gần bằng 1/3 diện tích thu hoạch của cùng kỳ; năng suất thu hoạch ước đạt 62,8 tạ/ha, tăng 5,02% so cùng kỳ; sản lượng thu hoạch gần 9.000 tấn, giảm 21.260 tấn so cùng kỳ. Hoa màu thu hoạch được 4.910 ha (chủ yếu rau dưa các loại), giảm 10,8% (giảm 590 ha) so cùng kỳ.

Về giá lúa luôn ổn định ở mức cao, hiện giá bán lúa tươi dao động từ 5.400 - 5.800 đồng/kg (tăng 50 - 100 đồng/kg so tháng trước và tăng 900 - 1.350 đồng/kg so với cùng kỳ); giá nếp tươi dao động từ 5.900 - 6.000 đồng/kg, tăng 300 - 350 đồng/kg so tháng trước và tăng 200 đồng/kg so cùng kỳ).

* Chăn nuôi: Giá bán giảm, thị trường chưa có dấu hiệu khởi sắc, hiệu quả kinh tế thấp, người chăn nuôi giảm đàn nên quy mô đàn cũng bị sụt giảm. Đàn trâu, bò có khoảng 83 ngàn con, bằng 98,46% so cùng kỳ, trong đó, đàn bò 80 ngàn con (chiếm 96,09%), bằng 96,09% so cùng kỳ. Đàn heo toàn tỉnh có khoảng 107 ngàn con, bằng 94,16% so cùng kỳ; bước sang tháng 02/2018, heo hơi được thương lái thu mua dao động từ 3,0 - 3,2 triệu đồng/tạ, thấp hơn 0,8 - 1,0 triệu đồng/tạ so tháng 10/2017. Đàn gia cầm có khoảng 4,5 triệu con, bằng 96,81% so cùng kỳ; trong đó, đàn gà có 1,3 triệu con (chiếm 28,16%), bằng 96,52% so cùng kỳ.

1.2. Lâm nghiệp

Thời tiết những tháng đầu năm lạnh, khô nguy cơ cháy rừng là rất cao nên công tác PCCCR luôn được tỉnh quan tâm. Trong tháng phát hiện ngăn chặn 12 vụ với hơn 30 lượt đối tượng chuẩn bị vào rừng để bắt chim, cò, xiệt cá tại khu vực rừng tràm Trà Sư. Khai thác gỗ được 6.783 m3 bằng 98,26% so cùng kỳ, riêng lượng củi khai thác được 35.890 ste, chủ yếu do nhu cầu sử dụng tăng dịp Tết.

1.3. Thủy sản

* Nuôi trồng: Diện tích thuỷ sản thả nuôi mới trong tháng ước khoảng 98 ha, diện tích đang nuôi cộng dồn khoảng 199 ha, xấp xỉso cùng kỳ. Diện tích thuỷ sản thu hoạch trong tháng được khoảng 114 ha, tăng 1,45% so cùng kỳ, trong đó cá tra có 78 ha (chiếm 68,33%), tăng 4,33%; diện tích thuỷ sản thu hoạch từ đầu năm đến nay được 229 ha, xấp xỉ cùng kỳ, trong đó diện tích cá tra khoảng 156 ha, tăng 2,91%. Tính chung 2 tháng đầu năm 2018, sản lượng thuỷ sản thu hoạch được khoảng 65 ngàn tấn, tăng 2,28% so cùng kỳ, trong đó cá tra 49 ngàn tấn, tăng 2,68%. Giá cá tra nguyên liệu tiếp tục giữ ở mức cao, có giá dao động khoảng 28,5 - 28,7 ngàn đồng/kg (loại 0,7 - 0,75 kg/con) và từ 29,2 - 29,5 ngàn đồng/kg (loại 0,9 - 1 kg/con); tăng 500 - 600 đồng/kg so cùng kỳ.

* Khai thác: Bước sang mùa khô nên lượng thuỷ sản khai thác tự nhiên cũng có xu hướng giảm dần. Ước tính, sản lượng thuỷ sản khai thác trong tháng được khoảng 1,8 ngàn tấn, bằng 98,73% so cùng kỳ.

2. Lĩnh vực Công nghiệp – Xây dựng

2.1. Sản xuất công nghiệp

Sau thời gian nghỉ tết Nguyên đán, các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất đã trở lại hoạt động sản xuất bình thường, tích cực khai thác nguồn nguyên liệu và thị trường tiêu thụ. Tuy nhiên, do các doanh nghiệp và cơ sở ngừng sản xuất để nghỉ đón tết Nguyên đán, nên đã ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu công nghiệp, cụ thể: Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 02/2018 ước giảm 15,27% so với tháng trước và giảm 2,09% so với cùng kỳ; Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh ước đạt 2.510,6 tỷ đồng, giảm 16,87% so tháng trước và tăng 1,16% so cùng kỳ; theo giá thực tế ước đạt 3.413,52 tỷ đồng, giảm 16,94% so tháng trước và tăng 8,63% so cùng kỳ. Tính chung 2 tháng đầu năm 2018, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 5,18% so cùng kỳ năm trước; ước giá trị sản xuất theo giá so sánh đạt 5.531 tỷ đồng, tăng 21,9% và theo giá thực tế đạt 7.523 tỷ đồng, tăng 21,2% so cùng kỳ.[2]

2.2. Đầu tư xây dựng:

Giá trị giải ngân đến hết tháng 2 năm 2018 được 340.282 triệu đồng, đạt 7,54% kế hoạch vốn năm 2018 (4.512.846 triệu đồng). So cùng kỳ năm trước, tỷ lệ giải ngân cao hơn cùng kỳ (7,38%). Trong đó: (1) nguồn vốn đầu tư tập trung 117.499 triệu đồng, đạt 10,36% kế hoạch; (2) nguồn vốn thu sử dụng đất 24.801 triệu đồng, đạt 9,92% kế hoạch; (3) Nguồn vốn xổ số kiến thiết 118.581 triệu đồng, đạt 8,08% kế hoạch; (4) vốn ngân sách trung ương 66.279 triệu đồng, đạt 14,14% kế hoạch; (5) vốn Trái phiếu Chính phủ 2.182 triệu đồng, đạt 0,33% kế hoạch; (6) vốn nước ngoài 10.940 triệu đồng, đạt 2,09% kế hoạch.

3. Thương mại – du lịch

3.1. Thương mại – Dịch vụ

Tháng 02/2018 là tháng tết, các doanh nghiệp đã chuẩn bị từ trước lượng hàng hóa phục vụ nhu cầu mua sắm dịp tết Nguyên đán Mậu Tuất 2018. Nhìn chung, thị trường Tết năm nay, hàng hóa phong phú, đa dạng với nhiều chủng loại, mẫu mã mới, đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người dân; giá các mặt hàng thiết yếu vẫn ổn định, sức mua hiện nay tăng mạnh ở nhiều nhóm hàng thiết yếu như: Lương thực, thực phẩm, hàng may mặc, đồ dùng trang thiết bị gia đình. Kết quả hoạt động thương mại – dịch vụ nội địa như sau:

- Doanh thu bán lẻ hàng hoá tháng 02/2018 đạt 6.650,6 tỷ đồng, tăng 18,8% so cùng kỳ. Tính chung 2 tháng đầu năm, tổng mức bán lẻ hàng hoá là 12.830,1 tỷ đồng, tăng 5,68% so cùng kỳ. Trong đó, so cùng kỳ năm trước, một số nhóm ngành hàng tăng khá như: Ô tô các loại tăng 66,1%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 40,4%; sửa chữa xe có động cơ, môtô, xe máy và xe có động cơ tăng 37%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 29,5%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 27,9%; lương thực, thực phẩm tăng 24,2%; hàng may mặc tăng 22,7%; hàng hóa khác tăng 13,5. Các nhóm ngành hàng còn lại tăng nhẹ hoặc giảm như: Đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 1,2%; vật phẩm văn hóa, giáo dục giảm 10,6%; phương tiện đi lại (trừ ô tô, kể cả phụ tùng) giảm 66,3% và xăng dầu các loại giảm 32,6%.

- Doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành đạt 3.581,9 tỷ đồng, tăng 17,07% so cùng kỳ năm trước.

- Doanh thu hoạt động dịch vụ đạt 1.186,2 tỷ đồng, tăng 5,16% so cùng kỳ năm trước; trong đó, tăng cao nhất là dịch vụ khácvới mức tăng 30,5%; dịch vụ sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình tăng 26,5%; dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 20,9%; dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 11%; kinh doanh bất động sản tăng 10,8%. Các dịch vụ còn lại đều giảm như dịch vụ giáo dục và đào tạo giảm 38,8%; dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội giảm 56%.

Vận tải hành khách và hàng hoá: Ước doanh thu vận tải, kho bãi tháng 02/2018 đạt 385,13 tỷ đồng, tăng 15,4% so cùng kỳ. Tính chung 2 tháng đầu năm đạt 758,22 tỷ đồng, tăng 5,71% so cùng kỳ; trong đó, doanh thu vận chuyển hành khách đạt 306,64 tỷ đồng, tăng 5,63%; doanh thu vận chuyển hàng hóa đạt 418,23 tỷ đồng, tăng 5,84%; doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 33,35 tỷ đồng, tăng 4,83%. Nhìn chung, do tháng 2 là tháng có tết Nguyên đán nên giá cước vận tải hành khách trong những ngày cao điểm giá vé tăng khoảng 10 - 20%.

Bưu chính - Viễn thông: Số máy điện thoại cố định ước trong tháng 02/2018: giảm 140 thuê bao so với tháng 01/2018. Lũy kế số thuê bao ước có trên mạng đến cuối tháng 02/2018 là: 52.551 thuê bao. Số máy điện thoại di động trả sau ước trong tháng 02/2018: giảm 160 thuê bao so với tháng 01/2018. Lũy kế số thuê bao ước có trên mạng đến cuối tháng 02/2018 là: 31.565 thuê bao. Số thuê bao Internet ước trong tháng 02/2018: tăng 1.084 thuê bao so với tháng 01/2018. Lũy kế số thuê bao ước có trên mạng đến cuối tháng 02/2018 là: 524.945 thuê bao.

3.2. Du lịch

Công tác tuyên truyền, quảng bá xúc tiến du lịch: từ ngày 07 – 11/2/2018, Trung tâm Xúc tiến Du lịch phối hợp với Bảo tàng tỉnh tổ chức thành công sự kiện “Triển lãm và giới thiệu Văn hóa Ẩm thực Du lịch” với sự tham gia của Phòng Văn hóa thông tin các huyện, thị, thành trong tỉnh, các công ty kinh doanh du lịch, kinh doanh ẩm thực, cơ sở mỹ nghệ, làng nghề tại Bảo tàng tỉnh. Trong khuôn khổ sự kiện, đã diễn ra các hoạt động: Triển lãm, giới thiệu hình ảnh du lịch, tuyến điểm du lịch An Giang và các địa phương trong tỉnh; Giới thiệu ẩm thực truyền thống, món ngon đặc sản của An Giang; Trưng bày, giới thiệu hàng thủ công mỹ nghệ, sản phẩm quà tặng du lịch, sản phẩm làng nghề của An Giang, các sản phẩm tiêu dùng phục vụ nhu cầu mua sắm Tết của người tiêu dùng; Trang trí tiểu cảnh Tết cổ truyền phục vụ nhu cầu vui chơi giải trí, chụp ảnh lưu niệm của người dân và du khách; Chương trình biểu diễn văn nghệ đường phố phục vụ hàng đêm. Sự kiện đã thu hút khoảng 5.000 lượt khách tham quan và tổng doanh thu ước đạt 500 triệu đồng. Ngoài ra, ngành cũng phối hợp với Đài Phát thanh Truyền hình An Giang thực hiện chuyên đề du lịch tháng 02/2018 với chủ đề “Kỳ vọng tăng trưởng du lịch năm 2018”.

 Hoạt động lữ hành - khách sạn: Hoạt động kinh doanh lưu trú trên địa bàn tỉnh đạt kết quả tốt do sự chuẩn bị chu đáo của doanh nghiệp. Trong tháng 2, ước đạt 1.100.000 lượt khách (tăng gấp 4,5 lần so với tháng trước), trong đó có khoảng 6.000 lượt khách quốc tế; doanh thu ước đạt: 500 tỷ đồng. Du khách chủ yếu đến các điểm du lịch Tịnh Biên, Châu Đốc, Tri Tôn và Thoại Sơn như: Khu du lịch Núi Sam, Khu du lịch Núi Cấm, Núi Sập, Điểm dừng chân Du lịch Vạn Hương Mai, Khu vui chơi giải trí Mỹ Thới, Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng, Di chỉ Óc Eo, Núi Két, Miễu Bà Bàu Mướp,.... Riêng Khu du lịch Đồi Tức Dụp đầu tư mới cơ sở vật chất, thiết bị trò chơi, trang trí cảnh quan, đường nội bộ nên lượt khách tham quan tăng cao so với năm trước.

Trong dịp xuân năm nay, nhìn chung các doanh nghiệp kinh doanh du lịch và các khu, điểm du lịch trong tỉnh đã có bước chuẩn bị khá tốt về vệ sinh môi trường, trang trí, tạo cảnh quan, đảm bảo an ninh trật tự, ổn định giá cả, công tác vệ sinh an toàn thực phẩm chú trọng và quan tâm chỉnh trang cơ sở vật chất, nâng cao cung cách phục vụ hướng đến sự hài lòng và tạo hình ảnh đẹp cho du lịch An Giang. Bên cạnh đó, chính quyền địa phương đã có sự chỉ đạo sát sao các cơ quan chức năng kết hợp công tác kiểm tra, giám sát chất lượng dịch vụ, đảm bảo tuyệt đối vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống cháy nổ, an ninh trật tự và an toàn tài sản, tính mạng cho du khách.

4. Hoạt động xuất, nhập khẩu

4.1. Xuất khẩu

Ước kim ngạch xuất khẩu tháng 02/2018 đạt 55,25 triệu USD, xấp xỉ so tháng trước. Tính chung 2 tháng đầu năm 2018, kim ngạch xuất khẩu đạt 110,79 triệu USD, tăng 30,9% so cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, xuất khẩu hàng hóa trong những tháng đầu năm 2018 đang có dấu hiệu khởi sắc, nhu cầu thị trường trên thế giới dự đoán tăng cao so cùng kỳ; trong đó, các mặt hàng chủ lực của tỉnh như: Gạo, cá, rau quả, hàng may mặc đều có sản lượng và kim ngạch xuất khẩu tăng cao so cùng kỳ. Cụ thể:

- Thuỷ sản: ước tháng 02/2018 xuất khẩu đạt 11.641 tấn, tương đương 26,56 triệu USD; so tháng trước tăng 10,08% về lượng vàtăng 9,89% về kim ngạch. Tính chung 2 tháng đầu năm 2018 xuất khẩu đạt 22.121 tấn, tương đương 50,73 triệu USD; so cùng kỳ tăng 20,1% về lượng và tăng 52,1% về kim ngạch. Dự đoán xuất khẩu thủy sản đông lạnh trong năm 2018 tiếp tục tăng trưởng; mặc dù, xuất khẩu cá tra đang gặp nhiều thách thức nhưng cơ hội mở rộng ở thị trường Trung Quốc sẽ góp phần nâng cao sản lượng và kim ngạch xuất khẩu.

- Gạo: ước xuất khẩu tháng 02/2018 đạt 29.699 tấn, tương đương 15,26 triệu USD; so tháng trước bằng 93,7% về lượng và bằng 98,5% về kim ngạch. Tính chung 2 tháng đầu năm 2018 xuất đạt 61.394 tấn, tương đương 30,75 triệu USD; so cùng kỳ tăng 53,2% về lượng và tăng 72,8% về kim ngạch. Nhìn chung, tình hình xuất khẩu gạo trong tháng đầu năm 2018, có tín hiệu khả quan, nhờ các thị trường truyền thống như Indonesia, Philippines có kế hoạch nhập khẩu từ đầu năm.

- Rau quả đông lạnh: ước tháng 02/2018 đạt 610 tấn, tương đương 0,965 triệu USD; so tháng trước bằng 94,4% về lượng và bằng 89,7 về kim ngạch. Tính chung 2 tháng đầu năm xuất đạt 1.256 tấn, tương đương 2,04 triệu USD; so cùng kỳ bằng 91,6% về lượng và tăng 4,8% về kim ngạch.

- Hàng dệt, may (quần áo, ba lô các loại): ước xuất khẩu tháng 02/2018 kim ngạch đạt 7,66 triệu USD; so tháng trước tăng 1,6%. Tính chung 2 tháng đầu năm 2018 xuất đạt 15,2 triệu USD; so cùng kỳ tăng 63,9% về kim ngạch.

Ngoài ra vẫn còn một số mặt hàng xuất khẩu khác trong 2 tháng đầu năm có kim ngạch xuất khẩu khá như: Túi xách, ví, vali, mũ và ô dù đạt 4,61 triệu USD; giày, dép các loại xuất khẩu đạt 2,25 triệu USD; phân bón đạt 1,74 triệu USD; hàng hóa khác đạt 4,14 triệu USD (trong đó: Thuốc lá gói 1,39 triệu USD; thuốc sâu các loại 1,07 triệu USD; hàng bách hóa tổng hợp các loại đạt trên 1,45 triệu USD).

4.2. Nhập khẩu

Ước nhập khẩu hàng hoá trong tháng đạt 6,74 triệu USD, giảm 36,2% so tháng trước. Tính chung 2 tháng đầu năm 2018 đạt 17,3 triệu USD, tăng 45,4% so cùng kỳ. Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu 2 tháng đầu năm tăng cao so cùng kỳ là: Thuốc trừ sâu và nguyên liệu (đạt 4,43 triệu USD, tăng 178,9%); vải các loại (đạt 9,9 triệu USD, tăng 129,6%); hàng hóa khác đạt 1,76 triệu USD, tăng 36,9%.

 5. Đăng ký kinh doanh và thu hút đầu tư

Tình hình đăng ký doanh nghiệp: Tính từ đầu năm đến ngày 27/02/2018, toàn tỉnh có 90 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 698 tỷ đồng, giảm 13,46% về số doanh nghiệp và giảm 19,39% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2017[3]. Bên cạnh đó, còn có 20 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, nâng tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động là 110 doanh nghiệp.

Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể đến 27/02/2018 là 21 doanh nghiệp, giảm 27,58% so với cùng kỳ năm trước.

Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động đến 27/02/2018 là 115 doanh nghiệp, tăng 16,16% so với cùng kỳ năm trước.

Tình hình thu hút đầu tư: Đến ngày 27/02/2018 trên địa bàn tỉnh đã thu hút đầu tư được 11 dự án với tổng vốn đăng ký là 5.527 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm 2017 số dự án giảm 15% (giảm 02 dự án), tuy nhiên tổng vốn đăng ký đầu tư tăng 132% (tăng 3.153 tỷ đồng), cụ thể như sau:

- Đầu tư trong nước: Trong tháng 02/2018, trên địa bàn tỉnh đã thu hút đầu tư được 03 dự án với tổng vốn đăng ký là 5.108 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm 2017 số dự án giảm 57% (giảm 04 dự án), tổng vốn đăng ký đầu tư tăng 169% (tăng 3.216 tỷ đồng). Như vậy, trong 02 tháng đầu năm 2018, tỉnh đã thu hút đầu tư được 11 dự án với tổng vốn đăng ký là 5.527 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm 2017 số dự án giảm 15% (giảm 02 dự án), tổng vốn đăng ký đầu tư tăng 132% (tăng 3.153 tỷ đồng). Trong đó: UBND tỉnh quyết định chủ trương đầu tư 08 dự án với tổng vốn đăng ký đầu tư 5.181 tỷ đồng. Ban quản lý Kinh tế tỉnh cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư 03 dự án với tổng vốn đầu tư 347 tỷ đồng.

- Đầu tư nước ngoài: Từ đầu năm đến ngày 27/02/2018, không có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp mới. So cùng kỳ năm 2017, số dự án được cấp mới giảm 01 dự án, số vốn đầu tư đăng ký giảm 197.345 USD; số dự án được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư điều chỉnh giảm 01 dự án. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh hiện có 37 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài còn hiệu lực (trong đó có 07 dự án thuộc Ban quản lý Khu Kinh tế quản lý), với tổng vốn đăng ký đầu tư 259.791.333 USD, tổng vốn thực hiện là 135.373.302 USD (chiếm 52% tổng vốn đầu tư đăng ký).

II. Tài chính - Ngân hàng

1. Tài chính: Ước tổng thu ngân sách từ kinh tế địa bàn 2 tháng đầu năm là 1.300 tỷ đồng, đạt 22,81% dự toán, tăng 0,36% so cùng kỳ, bao gồm: Thu thuế xuất nhập khẩu, tiêu thụ đặc biệt, giá trị gia tăng hàng nhập khẩu 8 tỷ đồng, tăng 29,16% so cùng kỳ; Thu nội địa 450 tỷ đồng, xấp xỉ so với cùng kỳ. Tổng chi ngân sách Nhà nước địa phương 2 tháng đầu năm đạt 1.393,54 tỷ đồng, so dự toán đạt12,62% và tăng 16,43% so cùng kỳ.

2. Ngân hàng

- Hoạt động huy động vốn: Tổng số dư vốn huy động ước thực hiện đến cuối tháng 02/2018 là 41.941 tỷ đồng, so cuối năm 2017 tăng 1,72%; trong đó huy động trên 12 tháng 16.682 tỷ đồng, chiếm 39,77%/tổng số dư vốn huy động.

- Hoạt động tín dụng: Tổng dư nợ ước thực hiện đến cuối tháng 02/2018 là 63.135 tỷ đồng, so với cuối năm 2017 tăng 3,86%.

- Kết quả thực hiện một số chủ trương chính sách:

+ Cho vay phục vụ sản xuất, thu mua xuất khẩu lúa gạo: Các TCTD đã triển khai, thực hiện kế hoạch giải ngân vốn đầu tư đối với các doanh nghiệp thu mua lương thực. Doanh số cho vay đến 31/01/2018 là 2.162 tỷ đồng, dư  nợ là 4.686 tỷ đồng.

+ Triển khai chính sách tín dụng cho nuôi trồng, thu mua và chế biến thuỷ sản xuất khẩu: (i) Hộ nuôi trồng thủy sản: Dư nợ đến cuối tháng 01/2018 là 2.338 tỷ đồng, so với 31/12/2017 tăng 1,34%, (trong đó cá tra 1.055 tỷ đồng, chiếm 45,12%/tổng dư nợ cho vay nuôi trồng thủy sản) tương đương với 4.338 hộ (trong đó cá tra là 847 hộ); (ii) Doanh nghiệp thu mua chế biến thủy sản: Dư nợ đến cuối tháng 01/2018 là 1.844 tỷ đồng, so với 31/12/2017 giảm (-12,06%).

+ Triển khai chính sách tín dụng hỗ trợ nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp: Đến cuối tháng 01/2018, tổng doanh số cho vay là 14 tỷ đồng; dư nợ là 600 tỷ đồng, so với 31/12/2017 giảm 0,99%, số khách hàng còn dư nợ là 1.561 khách hàng. Trong đó, tập trung một số máy móc cơ giới hóa chủ yếu như: Máy kéo, máy làm đất, san phẳng đồng ruộng, máy thu hoạch lúa…

+ Triển khai chương trình cho vay thí điểm phục vụ phát triển nông nghiệp theo Nghị quyết số 14/NQ-CP ngày 05/3/2014 của Chính phủ: Đến nay, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Chi nhánh An Giang đã có dư nợ 117,99 tỷ đồng gồm: (i) Công ty TNHH SXTMDV Thuận An vay chuỗi liên kết cá tra là 35,59 tỷ đồng; (ii) Công ty CP Rau quả thực phẩm An Giang vay chuỗi rau quả xuất khẩu là82,4 tỷ đồng.

+ Cho vay hỗ trợ nhà ở theo Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 07/01/2013 của Chính phủ: Đến nay các TCTD trên địa bàn đã giải ngân đầu tư với tổng dư nợ là 406 tỷ đồng, với tổng số hộ vay là 719 hộ.

+ Cho vay về chính sách tín dụng phục vụ nông nghiệp, nông thôn theo Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2015 của Chính phủ: Tính đến cuối Quý IV năm 2017 là 31.994 tỷ đồng, tăng 17,15% so với 31/12/2016; chiếm 52,63%/tổng dư nợ toàn tỉnh. 

+ Cho vay Chương trình kết nối Ngân hàng - Doanh nghiệp theo Công văn 5900/NHNN-TD ngày 14/8/2014 của NHNN Việt Nam: Tính từ đầu năm 2017 đến cuối quý IV/2017, trên địa bàn tỉnh An Giang có 4.355 lượt doanh nghiệp (trong đó: có 391 lượt doanh nghiệp nữ) và 87.371 lượt khách hàng cá nhân được các NHTM phát vay với số tiền 78.057 tỷ đồng và dư nợ tương ứng là 45.492 tỷ đồng.  

+ Cho vay xây dựng nông thôn mới theo Công văn 771/ANG-THKS ngày 09/9/2016 của NHNN Chi nhánh tỉnh An Giang: Đến cuối Quý IV/2017, dư nợ 14.334 tỷ đồng, tăng 12,82% so cuối năm 2016.

III. Văn hóa - Xã hội

1. Giáo dục

Tiếp tục triển khai các giải pháp nhằm củng cố và nâng cao chất lượng dạy và học, ngành cũng đã tiến hành kiểm tra công tác phổ cập giáo dục, xóa mù chữ; kiểm tra công nhận trường đạt chuẩn quốc gia; chuẩn bị các công việc cần thiết để tổ chức các kỳ thi, hội thi như Hội thi tài năng tiếng Anh cấp tỉnh, tuyển sinh vào lớp 10 năm học 2018-2019, kỳ thi THPT quốc gia năm 2018, Hội Khỏe phù đổng cấp tỉnh...

Bên cạnh đó, công tác thanh, kiểm tra của ngành cũng tiếp tục được đẩy mạnh, góp phần phát hiện và chấn chỉnh kịp thời những hạn chế thiếu sót của các đơn vị, đồng thời qua đó đẩy mạnh công tác tư vấn, hướng dẫn, giúp cho các đơn vị được kiểm tra nói riêng và hoạt động của ngành nói chung phát triển đúng hướng.

2. Y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân

Về tình hình dịch bệnh, trong tháng vừa qua chỉ có dịch Sốt xuất huyết (122 ca) và Tay chân miệng (44 ca), không có tử vong.

Hoạt động y tế dự phòng, tiêm chủng mở rộng tiếp tục được duy trì. Tính đến 31/01/2018 có 3.412 trẻ được tiêm đủ 08 loại vaccin cho trẻ em dưới 01 tuổi (đạt 10% kế hoạch); 1.807 phụ nữ mang thai được tiêm ngừa uốn ván (đạt 5,3% kế hoạch); 1.482 phụ nữ tuổi sinh đẻ được tiêm ngừa uốn ván (đạt 4% kế hoạch). Ngành Y tế tiếp tục tập trung phòng chống Sốt xuất huyết, Tay chân miệng, bệnh Sởi, bệnh do virus Zika; tổ chức phun thuốc diệt muỗi và vệ sinh môi trường cho nhân dân; kiểm tra giám sát công tác khám, sàng lọc các ca nghi nhiễm Cúm A (H5N1); giám sát ổ dịch Sốt xuất huyết, ổ dịch Tay chân miệng và hoạt động cộng tác viên phòng chống bệnh tại các địa phương trong tỉnh; thực hiện giám sát, tuyên truyền các biện pháp phòng bệnh Sởi, bệnh Bạch hầu, bệnh Dại và tiêm chủng phòng bệnh trong cộng đồng.

Trong tháng không có vụ ngộ độc thực phẩm nào xảy ra. Công tác đảm bảo an toàn thực phẩm: tổ chức kiểm tra xác nhận kiến thức về ATVSTP cho người trực tiếp sản xuất chế biến và kinh doanh thực phẩm tại một số cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống và cơ sở sản xuất; thẩm định cơ sở tại các huyện, thị, thành và hoàn thiện hồ sơ cấp giấy chứng nhận an toàn thực phẩm cho các cơ sở; kiểm tra thị trường tết Nguyên đán Mậu Tuất 2018; kiểm tra các dịch vụ ăn uống trên địa bàn TP Long Xuyên; kiểm tra bếp ăn tập thể tại khu công nghiệp Bình Hòa; tổ chức tập huấn kiến thức ATVSTP cho các trường học có bếp ăn tập thể trong tỉnh.

3. Lao động việc làm

Trong tháng, một số hoạt động trong công tác lao động, chăm lo phúc lợi người lao động được tỉnh triển khai như: theo dõi tình hình các doanh nghiệp trong việc giải quyết các chế độ cho người lao động trong dịp tết Nguyên đán 2018; tổ chức khảo sát 48 doanh nghiệp có sử dụng nhiều lao động; theo dõi và kiểm tra chấn chỉnh việc chấp hành pháp luật bảo hiểm của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Từ đầu năm đến nay đã giải quyết việc làm cho trên 4.819 lao động (đạt 16% kế hoạch), trong đó: lao động trong tỉnh 3.500 người, ngoài tỉnh 1.250 người; xuất khẩu lao động 31 người (thông qua Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh 08 lao động) tại các thị trường: Nhật Bản 13 lao động, Đài Loan 11 lao động, Hàn Quốc 02 lao động, Á Rập 05 lao động.

4.  Văn hoá - Thể thao

Trong tỉnh diễn ra nhiều hoạt động mừng Xuân Mậu Tuất năm 2018, tiêu biểu như: tổ chức Chương trình biểu diễn nghệ thuật kết hợp múa Lân Sư Rồng đón giao thừa Xuân Mậu Tuất tại các huyện, thị, thành trong tỉnh; tổ chức nhiều Hội thi (trang trí cổng chào các khóm ấp, trụ sở UBND phường xã và các diểm trường; thi Gói, nấu bánh tét mừng xuân; văn nghệ ca múa nhạc, Liên hoan Đờn ca tài tử và Cải lương; hội thi Thiếu nhi vẽ tranh; thi thể thao và nghệ thuật biễu diễn lân sư rồng); hoạt động phục vụ thiếu nhi biểu diễn văn nghệ gây quỹ cho học sinh nghèo vui xuân, đón tết (An Phú); tổ chức trưng bày, triển lãm mừng xuân (Hội Báo Xuân Mậu Tuất 2018; triển lãm ảnh chuyên đề “Một số hình ảnh Mừng Đảng mừng Xuân” và “Mừng Đảng – Mừng Xuân – Mừng Thắng lợi”). Ngoài ra, Khu Lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng mở cửa thường xuyên, phục vụ tốt nhu cầu tham quan, tìm hiểu của du khách trong dịp mừng Đảng – mừng Xuân Mậu Tuất năm 2018 (đã tiếp đón 5.823 lượt khách, trong đó có 23 lượt là khách quốc tế và Việt kiều).

Về hoạt động thể dục thể thao: chào mừng Xuân Mậu Tuất 2018, các hoạt động thi đấu thể thao đã được toàn tỉnh tập trung tổ chức sôi nổi, thu hút trên 6.600 lượt vận động viên và đông đảo quần chúng nhân dân tham gia và cổ vũ, trong đó, đã tổ chức được 06 giải thể thao cấp tỉnh trong chương trình Đại hội Thể dục thể thao tỉnh An Giang lần thứ VIII năm 2018 (Pencak Silat, xe đạp, việt dã, quần vợt, kéo co và đẩy gậy), thu hút trên 500 VĐV tham dự. Qua các giải thi đấu đã tạo sân chơi bổ ích, thú vị, lành mạnh, tạo không khí vui tươi, phấn khởi cho nhân dân trong dịp Xuân Mậu Tuất năm 2018.

5. Khoa học công nghệ, môi trường

5.1. Khoa học - Công nghệ:

Công tác quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ (KHCN) trên địa bàn tỉnh đang được đổi mới, nhiều thành tựu về KHCN được người dân quan tâm và ứng dụng vào đời sống và sản xuất, nhất là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Hoạt động KHCN cấp huyện cũng được quan tâm nhiều hơn, hỗ trợ nhiều mô hình đạt hiệu quả cao được nông dân quan tâm áp dụng góp phần tăng hiệu quả trong sản xuất. Các dự án ứng dụng và chuyển giao tiến bộ KHCN, đổi mới công nghệ được hỗ trợ kinh phí thực hiện từ nguồn sự nghiệp KHCN theo Quyết định 567/QĐ-UBND ngày 10/3/2016 của UBND tỉnh được triển khai thực hiện đúng tiến độ, góp phần tạo ra sản phẩm hàng hóa có chất lượng với giá thành cạnh tranh.

Một số hoạt động tiêu biểu trong tháng như: tổ chức Hội thảo về kỹ thuật trồng và xử lý xoài Ba Màu đạt tiêu chuẩn VietGAP; Xây dựng mô hình thử nghiệm trồng cà chua cao sản trong nhà lưới tại Châu Đốc; Nghiên cứu, đánh giá thành phần hóa học và sinh học kết hợp sản xuất thực phẩm chức năng từ cây đinh lăng lá nhỏ tại huyện Tri Tôn, Tịnh Biên; Nghiên cứu sản xuất thực phẩm chức năng từ cao Chùm ngây trồng tại vùng Bảy núi.

Việc triển khai thực hiện nhiệm vụ KHCN theo Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 27/6/2012, Chương trình hành động số 18-CTr/TU ngày 28/02/2013 của Tỉnh ủy và các văn bản chỉ đạo của UBND tỉnh đạt được nhiều kết quả, tiêu biểu như: nghiên cứu tuyển chọn được cây đầu dòng các giống bản địa và phát triển các giống cây ăn quả tiềm năng phục vụ phát triển ngành cây ăn quả cho tỉnh; khảo nghiệm, chọn được các giống đậu phộng phù hợp với điều kiện của An Phú; ứng dụng và chuyển giao các quy trình canh tác mới, hiệu quả và có triển vọng phát triển (mô hình trồng xoài 03 màu Chợ Mới, mô hình ương giống cá lăng nha); đánh giá được khả năng thích nghi và sinh trưởng của cừu Phan Rang nuôi thịt tại huyện Tịnh Biên. Ngoài ra, ngành cũng đã khảo sát hợp tác xã trồng xoài Long Bình để xem xét và hỗ trợ xây dựng GlobalGAP cho xoài; thực hiện đúng tiến độ Kế hoạch xây dựng nhãn hiệu chứng nhận An Giang cho các sản phẩm nông nghiệp tỉnh An Giang giai đoạn 2016-2020, tầm nhìn đến 2030.

5.2. Tài nguyên - Môi trường

Tập trung triển khai công tác Thống kê đất đai năm 2017 đảm bảo tiến độ theo kế hoạch đề ra; tiếp tục khai thác quỹ đất công theo danh mục được duyệt. Công tác đo đạc, cảnh báo sạt lở trên địa bàn tỉnh đợt II/2017 cũng đã hoàn thành; Kế hoạch thực hiện nhiệm vụ ứng phó với biến đổi khí hậu tỉnh An Giang năm 2018 và Kế hoạch thực hiện thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu tỉnh An Giang đã hoàn thành và chuẩn bị thông qua Ban Chỉ đạo tỉnh.

Nhiều dự án thuộc Quy hoạch tài nguyên nước tỉnh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đang tiếp tục triển khai như Dự án Đánh giá sức chịu tải của sông, kênh rạch trên địa bàn tỉnh, Dự án Khoanh định, công bố vùng cấm, vùng hạn chế và khu vực phải thực hiện đăng ký khai thác nước dưới đất, Dự án Khoanh vùng cảnh báo sạt lở, xây dựng cơ sở dữ liệu địa hình đáy sông và đề xuất các giải pháp ứng phó, hạn chế mức độ thiệt hại do sạt lở gây ra tại các sông chính trên địa bàn tỉnh An Giang.

Xây dựng Kế hoạch triển khai thực hiện Quyết định số 1598/QĐ-TTg ngày 17/10/2017 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch quốc gia thực hiện Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy đến năm 2025, tầm nhìn 2030 trên địa bàn tỉnh An Giang và Kế hoạch thực hiện năm 2018 Chương trình nghiên cứu phát triển bền vững các vùng sinh thái trên địa bàn tỉnh An Giang trong điều kiện biến đổi khí hậu giai đoạn 2016 – 2020. Về các dự án quản lý chất thải: dự án Đóng cửa, xử lý ô nhiễm môi trường các bãi rác thải sinh hoạt trên địa bàn tỉnh giai đoạn 01 đang được đẩy nhanh tiến độ dự kiến hoàn thành trong quý I năm 2018; dự án đầu tư xử lý chất thải 06 bệnh viện trên địa bàn tỉnh đã thi công đạt 100% hạng mục công trình, dự kiến bàn giao và đưa vào sử dụng trong quý I năm 2018.

6. Tuyên truyền, thông tin và truyền thông

Trong tháng 02/2018, ngành thông tin – truyền thông tỉnh đã có nhiều hoạt động như: xây dựng kế hoạch và tổ chức tuyên truyền sâu rộng nội dung kế hoạch 04/KH-UBND ngày 08/01/2018 của UBND tỉnh về thực hiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; triển khai thực hiện việc công bố, công khai thông tin tài liệu, số liệu của Sở Thông tin và Truyền thông năm 2018; kế hoạch triển khai công tác phòng, chống tham nhũng năm 2018; tổ chức Họp mặt báo chí Xuân Mậu Tuất năm 2018 và các hoạt động chào mừng kỷ niệm 50 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968 và mừng Đảng, mừng Xuân Mậu Tuất 2018 trong ngành thông tin và truyền thông.

7. An sinh xã hội

* Mừng tết Nguyên đán 2018: Toàn tỉnh đã tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, thể thao, nghệ thuật mừng Xuân đúng theo kế hoạch đã đề ra với nhiều loại hình phong phú, sinh động, hấp dẫn, đáp ứng tốt nhu cầu vui chơi, giải trí của các tầng lớp nhân dân, kể cả đồng bào dân tộc. Các hoạt động đã diễn ra trong không khí sôi nổi, vui tươi và được sự quan tâm hưởng ứng, cổ vũ tích cực của đông đảo quần chúng nhân dân tham dự.

* Công tác giảm nghèo, an sinh xã hội cho người nghèo: Tỉnh đã tập trung triển khai và hướng dẫn cấp huyện thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ và trợ cấp tết năm 2018 cho 82.574 hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ khó khăn, với tổng kinh phí thực hiện 29,809 tỷ đồng; trợ cấp cho 76.866 đối tượng bảo trợ xã hội, với tổng kinh phí 26,902 tỷ đồng; cấp phát 1.397 giấy mừng thọ cho người cao tuổi 90 và 100 tuổi ở các huyện, thị xã, thành phố; phối hợp với các đơn vị tài trợ (Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng TMCP Ngoại thương, Ngân hàng TMCP Công thương, Ngân hàng Nông nghiệp-PTNT, Ngân hàng Quân đội) tham dự lễ bàn giao nhà ở cho hộ nghèo ở các huyện An Phú (50 căn), Châu Thành (50 căn) và Thoại Sơn (30 căn) với tổng kinh phí 6,5 tỷ đồng.

* Tình hình thiên tai: khu vực bờ kè nhà thờ Ông Chưởng (ấp Long Phú 1, xã Long Điền B, huyện Chợ Mới) đã xảy ra sụt lún, răn nứt mặt đường dài hơn 100m ảnh hưởng đến cuộc sống của 02 hộ dân phải di dời nhà ở khẩn cấp (không có thiệt hại về người) và an toàn giao thông ở khu vực này. UBND tỉnh đã chỉ đạo địa phương bố trí nền nhà ở cho 02 hộ dân di dời trên.

B. PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM THÁNG 03 NĂM 2018

Ngoài việc bám sát mục tiêu, triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội đã đề ra theo Nghị quyết HĐND tỉnh, các Sở, ban, ngành tỉnh tập trung vào một số công tác trọng tâm sau:

1. Từng ngành, địa phương thực hiện đánh giá tình hình phát triển kinh tế - xã hội trong những tháng đầu năm; rà soát, điều chỉnh, bổ sung giải pháp, tập trung chỉ đạo, điều hành, phấn đấu hoàn thành thắng lợi các mục tiêu đề ra.

2. Về quản lý khu vực nông – lâm – thủy sản:

- Tiếp tục theo dõi tình hình sản xuất Vụ Đông Xuân 2017-2018. Tổ chức thăm đồng theo dõi tình hình sinh trưởng và dịch hại trên các loại cây trồng. Tổ chức hội thảo khuyến nông, diệt chuột cộng đồng, khuyến cáo nông dân áp dụng chương trình 3 giảm 3 tăng, 1 phải 5 giảm. Tập huấn trồng rau an toàn, thực hiện các mô hình công nghệ sinh thái, bẫy cây trồng.

- Tiếp tục tiêm phòng vaccin cho đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh. Tăng cường công tác giám sát tình hình dịch bệnh trên gia súc, gia cầm, trong đó lưu ý bệnh cúm gia cầm và bệnh lở mồm long móng gia súc. Tăng cường công tác kiểm tra kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật đảm bảo an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng.

- Tiếp tục tăng cường công tác tuần tra, kiểm tra bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng, khai thác rừng trái pháp luật. Phối kết hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng có liên quan, tiến hành kiểm tra, truy quét việc khai thác rừng, phá rừng, vận chuyển, cất giữ lâm sản trái pháp luật trên toàn tỉnh.

3. Về quản lý khu vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ:

- Tăng cường liên kết, phối hợp với các Tham tán Thương mại Việt Nam tại nước ngoài để đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại và mở rộng thị trường cho hàng hóa, dịch vụ của An Giang. Tạo điều kiện để doanh nghiệp tham gia hội chợ và hội thảo gắn kết giao thương.

- Triển khai hệ thống quản lý truy xuất nguồn gốc sản phẩm rau, củ, quả. Xây dựng Đề án truy xuất nguồn gốc thịt heo; Đề án phát triển thương hiệu gạo; Kế hoạch phát triển thương hiệu xoài. Xây dựng triển khai kế hoạch chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả năm 2018; Kế hoạch tăng cường công tác phòng, chống buôn lậu, kinh doanh phân bón, thuốc bảo vệ thực vật giả, kém chất lượng.

4. Về đầu tư xây dựng: Tăng cường các giải pháp, tập trung tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư, triển khai có hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia, vốn Trung ương bổ sung, vốn Trái phiếu Chính phủ, vốn đầu tư tập trung và vốn xổ số kiến thiết của tỉnh và các nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước.

5. Về phát triển doanh nghiệp:

- Tập trung triển khai thực hiện Kế hoạch 73/KH-UBND ngày 08/2/2018 về phát triển doanh nghiệp tỉnh An Giang đến năm 2020; Chương trình hành động số 377/CTr-UBND ngày 14/7/2016 nhằm triển khai thực hiện Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020. Tăng cường thông tin, tuyên truyền sự quyết tâm của lãnh đạo tỉnh về thu hút đầu tư trong và ngoài nước; tạo mọi điều kiện nhất là các hồ sơ, thủ tục có liên quan, đảm bảo cho nhà đầu tư triển khai nhanh dự án đầu tư trên địa bàn.

- Tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư, chú trọng tạo điều kiện thuận lợi nhất để thu hút được Nhà đầu tư chiến lược có năng lực để đầu tư vào các mục tiêu mà tỉnh đang chú trọng (như lĩnh vực Du lịch và Nông nghiệp...) gây tác động lan tỏa đến nhà đầu tư mới thông qua việc tăng cường hợp tác với các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài đã và đang đầu tư tại An Giang nhằm hỗ trợ giới thiệu các nhà đầu tư khác.

6. Về giáo dục và đào tạo:

- Tiếp tục kiểm tra việc đảm bảo an toàn cho trẻ trong các cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập. Báo cáo công tác quản lý nhà nước về giáo dục mầm non và báo cáo thực trạng giáo dục mầm non ở khu công nghiệp.

- Hoàn thành kế hoạch thực hiện Quyết định số 117/QĐ-TTg ngày 25/01/2017 về phê duyệt Đề án “Tăng cường UDCNTT trong quản lý và hỗ trợ hoạt động dạy học, nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao chất lượng GDĐT giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2025”.

5. Đối với lĩnh vực y tế:

- Tập trung chỉ đạo phòng chống các dịch bệnh Sởi, Sốt xuất huyết, Tay chân miệng, Cúm A (H5N1) và Cúm A (H7N9) ở người, các dịch bệnh mùa đông xuân. Tuyên truyền vệ sinh ăn uống, kiểm tra nguồn nước, vệ sinh môi trường, chăm sóc tốt sức khỏe nhân dân sau mùa lũ.

- Tăng cường kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm phục vụ lễ hội Vía Bà chúa Xứ ở Núi Sam - Châu Đốc; phối hợp liên ngành kiểm tra VSATTP các cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm và bếp ăn tập thể.

6. Lao động, việc làm, an sinh xã hội:

- Tham mưu UBND tỉnh trình thường trực HĐND tỉnh thông qua việc điều chỉnh, bổ sung một số nội dung Đề án “Tăng cường đưa lao động An Giang đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng giai đoạn 2016 - 2020”. Xây dựng kế hoạch thực hiện Đề án phát triển nghề công tác xã hội (Đề án 32) giai đoạn 2018-2020.

- Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện các hoạt động thuộc Chương trình quốc gia về an toàn, vệ sinh lao động năm 2018 trên địa bàn tỉnh An Giang; kế hoạch tổ chức các hoạt động hưởng ứng Tháng hành động về An toàn, vệ sinh lao động năm 2018.

7. Về quản lý tài nguyên và môi trường:

- Ban hành Quyết định ban hành Quy định về cơ chế tạo quỹ đất, cơ chế quản lý và khai thác quỹ đất công trên địa bàn tỉnh An Giang (thay thế Quyết định số 47/2013/QĐ-UBND); Quyết định sửa đổi Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh An Giang; Kế hoạch thực hiện nhiệm vụ ứng phó với biến đổi khí hậu tỉnh An Giang năm 2018 và Kế hoạch thực hiện thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu tỉnh An Giang.

- Báo cáo tình hình sạt lở trên địa bàn tỉnh; đề xuất các giải pháp ứng phó và khắc phục thiệt hại do sạt lở gây ra.

- Hoàn thành công tác Thống kê đất đai năm 2017 tỉnh An Giang báo cáo Bộ Tài nguyên và Môi trường theo quy định. Triển khai xây dựng phương án bảo vệ khoáng sản chưa khai thác trên địa bàn tỉnh An Giang./.

 

[1]  Nguyên nhân chủ yếu do ảnh hưởng dây chuyền, nông dân sử dụng một số giống dài ngày (DS1, OM6976, nếp,…). Đồng thời, tổng diện tích gieo trồng của vụ Đông Xuân năm nay không đạt kế hoạch đề ra do một số diện tích chuyển sang trồng rau màu và cây ăn trái

 

[2] Trong 2 tháng đầu năm 2018, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng cao so cùng kỳ năm trước: Đá xây dựng khác đạt 769.866 m3, tăng 11,2% (cùng kỳ 687.380 m3); gạo đã xát toàn bộ đạt 215.574 tấn, tăng 13% (cùng kỳ 190.773 tấn); áo sơ mi cho người lớn đạt 3,08 triệu cái, tăng 23,8% (cùng kỳ khoảng 2,48 triệu cái); sản xuất ba lô đạt 15 triệu cái, tăng 303% (cùng kỳ 3,7 triệu cái); giày, dép có đế hoặc mũ bằng da đạt 2,538 triệu đôi, tăng 102% (cùng kỳ 1,256 triệu đôi); xi măng Portland đen đạt 55.888 tấn, tăng 18,9% (cùng kỳ khoảng 47.000 tấn); bê tông trộn sẵn đạt 20.896 m3, tăng 77,8% (cùng kỳ 11.752 m3); máy thu hoạch khác đạt 199 cái, tăng 279% (cùng kỳ 53 cái); máy sấy nông sản đạt 23 cái, tăng 27,7% (cùng kỳ 18 cái); điện thương phẩm đạt 460 triệu kwh, tăng 10,8% (cùng kỳ 415 triệu kwh). Một số sản phẩm tăng thấp hoặc giảm: Thuốc trừ sâu khác và sản phẩm hóa chất khác đạt 5.126 tấn, giảm 19,6% (cùng kỳ khoảng 6.375 tấn); phi lê đông lạnh đạt 17.334 tấn, giảm 37,4% (cùng kỳ 27.690 tấn)

 

[3] Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 7,75 tỷ đồng, giảm 6,85% so với cùng kỳ

 

File đính kèm : Báo cáo Tình hình kinh tế - xã hội tháng 02 năm 2018

các tin khác