(Cổng TTĐT tỉnh AG)- Ông Kiều Văn Niết sinh ngày 19/11/1951 tại ấp Mỹ Khánh B, xã Thái Mỹ, huyện Củ Chi, tỉnh Gia Định (nay là Thành phố Hồ Chí Minh). Ông lớn lên giữa vùng “đất thép” luôn chìm trong khói lửa chiến tranh. Chứng kiến quân Mỹ - ngụy càn quét, tàn sát đồng bào, đốt phá xóm làng, người thanh niên ấy sớm nuôi chí tham gia cách mạng. Với ông, cầm súng chiến đấu không chỉ là trách nhiệm của một người con quê hương Củ Chi mà còn là con đường để góp sức giành lại độc lập, tự do cho dân tộc.
Tuổi thơ của ông Kiều Văn Niết gắn với nhiều mất mát. Năm 14 tuổi, cha ông bị quân Mỹ - ngụy sát hại, để lại người mẹ tần tảo nuôi bốn anh em bằng nghề làm thuê. Không có điều kiện đến trường, ông cùng em trai đi chăn trâu, làm mướn để phụ giúp gia đình. Chính những năm tháng cơ cực cùng cảnh quê hương bị chiến tranh tàn phá đã hun đúc trong ông lòng yêu nước và ý chí đứng lên cầm súng bảo vệ Tổ quốc.
Năm 16 tuổi, ông tham gia lực lượng du kích xã Thái Mỹ, huyện Củ Chi, làm nhiệm vụ giao liên. Công việc chuyển thư, tài liệu, dẫn đường cho cán bộ qua các tuyến kiểm soát của địch luôn đối mặt với hiểm nguy, nhưng người thanh niên ấy chưa bao giờ chùn bước.

Năm 1968, ông được điều về Đại đội C15, bộ đội địa phương huyện Củ Chi. Từ đây, tuổi trẻ của ông gắn với những trận đánh ác liệt trên chính quê hương mình. Chỉ trong chưa đầy hai năm, ông cùng đơn vị tham gia nhiều trận chiến, lập nhiều chiến công.
Vào năm 1970, trong trận tiến công ấp chiến lược Bàu Tre Cổ. Một quả đạn cối nổ gần vị trí chiến đấu khiến cánh tay phải của ông gần như bị cắt lìa. Giữa làn đạn dày đặc, người chiến sĩ trẻ chỉ kịp dùng tay trái nhặt lại khẩu súng, ghì chặt phần bắp tay bị thương để cầm máu rồi tìm đường rút khỏi trận địa.
Phần cánh tay bị thương chỉ còn dính lại bằng một phần da và gân, liên tục va đập theo từng bước chạy. Hiểu rằng nếu không dứt bỏ phần cánh tay gần đứt lìa thì sẽ không thể tiếp tục di chuyển, Kiều Văn Niết đã đưa ra một quyết định đầy đau đớn. Ông đặt cánh tay lên bờ ruộng, dùng chân đạp xuống rồi dồn hết sức giật mạnh. Cơn đau khiến ông nhiều lần ngất lịm giữa chiến trường, nhưng khi tỉnh dậy, ông vẫn ôm khẩu súng, cố gắng trở về đơn vị.
Sau ca phẫu thuật cắt bỏ hoàn toàn cánh tay phải, nhiều người nghĩ cuộc đời chiến đấu của người lính trẻ sẽ khép lại. Thế nhưng, ba tháng điều trị trong những căn hầm bí mật giữa vùng chiến sự lại mở ra một hành trình mới.
Tuổi thơ nghèo khó khiến Kiều Văn Niết chưa từng được đến trường. Trong thời gian điều trị, một đồng đội trở thành người thầy đầu tiên dạy ông học đọc, học viết. Lớp học diễn ra ngay trong căn hầm dã chiến, không bảng, không bàn ghế. Những mảnh giấy nhặt được được tận dụng làm vở, hết giấy thì dùng que viết xuống nền đất hoặc lấy ngón tay tập từng nét chữ trên vách hầm.
Ba tháng điều trị cũng là ba tháng người thương binh trẻ miệt mài học chữ bằng bàn tay trái. Những nét chữ đầu tiên còn nguệch ngoạc, nhiều lúc bàn tay tê cứng vì chưa quen, nhưng ông chưa bao giờ nghĩ đến chuyện bỏ cuộc. Rồi một ngày, người lính từng chưa biết mặt con chữ đã tự đọc được những dòng đầu tiên và viết được lá thư đầu tiên gửi về gia đình. Ông từng chia sẻ, niềm vui ấy còn khó diễn tả hơn cả những lần lập chiến công ngoài mặt trận.
Không chỉ học chữ, ông Niết còn kiên trì tập làm lại mọi công việc chỉ với một cánh tay. Ông tự giặt quần áo, nấu ăn, cuốc đất, trồng rau và luyện tập từng động tác sinh hoạt hằng ngày. Điều mà nhiều người nghĩ một thương binh hạng nặng khó có thể làm được, ông đều kiên trì vượt qua với suy nghĩ giản dị: “Người khác làm được thì mình cũng phải làm được”.

Khi vết thương ổn định, người thương binh một tay nhiều lần tha thiết xin được trở lại đơn vị. Nguyện vọng ấy cuối cùng cũng được chấp thuận. Năm 1971, ông được giao làm liên lạc cho Huyện đội Củ Chi, sau đó phụ trách Tổ Hỏa tốc rồi Trung đội Thông tin. Chỉ còn một cánh tay nhưng ông vẫn thực hiện hàng trăm chuyến công tác qua vùng địch kiểm soát, chuyển công văn, điện tín và mệnh lệnh chiến đấu đến đúng nơi, đúng thời điểm, góp phần giữ vững mạch thông tin liên lạc của lực lượng vũ trang Củ Chi trong những năm tháng ác liệt nhất của cuộc kháng chiến.
Những cống hiến ấy được Đảng và Nhà nước ghi nhận. Ngày 24/1/1976, ông Kiều Văn Niết được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Đối với ông, đó không chỉ là niềm vinh dự của riêng mình mà còn là sự ghi nhận đối với những đồng đội đã cùng chiến đấu, hy sinh vì độc lập của Tổ quốc.

Ngoài danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, ông còn được tặng thưởng nhiều huân chương, huy chương và danh hiệu thi đua cao quý của Đảng và Nhà nước, tiêu biểu như Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhì, Huân chương Quân công giải phóng hạng Nhì, Huân chương Chiến sĩ Giải phóng, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang cùng các danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ, Dũng sĩ diệt xe cơ giới, Dũng sĩ Quyết thắng.
Sau chiến tranh, ông xây dựng gia đình với bà Phan Trường Phụng, một nữ thương binh từng bị địch giam cầm tại nhà tù Côn Đảo. Ông chuyển công tác về Ban Tổ chức Tỉnh ủy Kiên Giang, tiếp tục cống hiến bằng tinh thần trách nhiệm của người cán bộ, đảng viên.
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày để lại cánh tay phải trên chiến trường Củ Chi, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Kiều Văn Niết vẫn giữ trọn nghị lực và bản lĩnh của người lính năm xưa. Khoảng tay áo trống bên phải là dấu tích của chiến tranh, nhưng không thể lấy đi ý chí, khát vọng cống hiến và lòng son sắt với Tổ quốc. Trong cuộc sống đời thường, ông vẫn lặng lẽ viết hồi ký, kể lại những câu chuyện về đồng đội đã ngã xuống. Với ông, chiến tranh đã lùi xa, nhưng trách nhiệm gìn giữ ký ức, giáo dục truyền thống và truyền ngọn lửa yêu nước cho các thế hệ mai sau chưa bao giờ khép lại.
THU ANH