Chào mừng bạn đến với Cổng thông tin điện tử Tỉnh An Giang
cổng thông tin điện tử tỉnh an giang

An Giang: Nhiều giải pháp cấp bách và lâu dài nhằm chủ động quản lý, phòng, chống sạt lở

An Giang: Nhiều giải pháp cấp bách và lâu dài nhằm chủ động quản lý, phòng, chống sạt lở

Ngày đăng: 24/08/2021

Xem với cở chữ : A- A A+
An Giang là tỉnh ở đầu nguồn ĐBSCL, hàng năm chịu tác động của dòng chảy lũ thượng nguồn đổ về từ tháng 6 đến tháng 11. An Giang có nền đất yếu, rất dễ bị xâm thực, bào mòn nhanh - yếu tố dẫn đến bị ảnh hưởng sạt lở nhiều hơn một số tỉnh ĐBSCL.

Nếu như năm 2002 tỉnh có 25 đoạn cảnh báo sạt lở, đến năm 2020 tăng 53 đoạn nguy cơ sạt lở với tổng chiều dài khoảng 171,58 km/400 km đường bờ, gây ảnh hưởng hơn 20.000 hộ dân, trong đó hơn 5.380 hộ dân cần di dời khẩn cấp ra khỏi khu vực sạt lở. Có 6 đoạn được cảnh báo ở mức độ đặc biệt nguy hiểm.

Theo Sở Tài nguyên và Môi trường: nguyên nhân sạt lở chủ yếu do diễn biến thời tiết bất thường, tác động của quá trình biến đổi khí hậu và ảnh hưởng của các đập thủy điện trên sông Mêkong gây thiếu bùn cát bồi lắng, yếu tố thủy lực, dòng chảy, hình thái dòng sông, cấu trúc địa chất bờ sông, vận động kiến tạo và hoạt động kinh tế-xã hội (ghe tàu, khai thác cát, hoạt động xây dựng, vận tải 2 bên bờ sông...).

Responsive image

Sạt lở nghiêm trọng trên tuyến Quốc lộ 91 (huyện Châu Phú) vào năm 2020

Responsive image

Sạt lở nghiêm trọng trên tuyến Tỉnh lộ 946 (huyện Chợ Mới)

Responsive image

Bí thư Tỉnh ủy Lê Hồng Quang thị sát tình hình sạt lở trên tuyến Tỉnh lộ 946

Responsive image

Di dời khẩn cấp hàng chục hộ dân cặp rạch ông Chưởng (xã Long Kiến, huyện Chợ Mới) do sạt lở

Trước tình hình đó, UBND tỉnh đã triển khai kế hoạch phòng, chống sạt lở bờ sông đến năm 2030, nhằm chủ động quản lý, phòng, chống sạt lở bờ sông, kênh, rạch, tạo điều kiện ổn định và phát triển kinh tế-xã hội khu vực ven sông, kênh, rạch, bảo đảm quốc phòng-an ninh. Tỉnh phấn đấu đến năm 2023 cơ bản hoàn thành bản đồ về hiện trạng sạt lở, công trình phòng, chống sạt lở trên địa bàn. Nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo, giám sát sạt lở và quản lý bờ sông, lòng sông, giảm thiểu tác động làm gia tăng nguy cơ sạt lở. Phấn đấu đến năm 2023 các khu dân cư ven sông, kênh, rạch ở vùng có nguy cơ xảy ra sạt lở được cảnh báo kịp thời và được hướng dẫn kỹ năng ứng phó khi xảy ra sạt lở. Quản lý chặt chẽ việc xây dựng công trình, nhà cửa tại khu vực ven sông, kênh, rạch. Chủ động sắp xếp lại dân cư, di dời dân cư ra khỏi khu vực có nguy cơ xảy ra sạt lở bờ sông, kênh, rạch; phấn đấu đến năm 2030 hoàn thành 90% việc di dời các hộ dân ra khỏi khu vực có nguy cơ cao xảy ra sạt lở. Phấn đấu đến năm 2025, hoàn thành xử lý sạt lở tại các khu vực trọng điểm xung yếu ảnh hưởng trực tiếp đến khu dân cư tập trung, hệ thống đê điều (nhất là các tuyến đê cấp III đã được phân cấp), cơ sở hạ tầng thiết yếu vùng ven sông. Đến năm 2030, hoàn thành việc chỉnh trị ổn định dòng chảy tại một số phân lưu, hợp lưu, trên các đoạn sông chính, khu vực cửa sông có diễn biến xói, bồi phức tạp cần chỉnh trị.

Để thực hiện hiệu quả, UBND tỉnh đã đề ra 4 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, phân công các sở, ban, ngành, địa phương phối hợp triển khai giảm thiểu tác động gây sạt lở bờ sông. Theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trần Anh Thư, trước hết cần rà soát, hoàn thiện chính sách, pháp luật liên quan đến công tác phòng, chống sạt lở bờ sông để tăng cường quản lý các hoạt động tại khu vực ven sông, kênh, rạch (nhất là quản lý khai thác cát sỏi, xây dựng công trình, nhà cửa ven sông, kênh, rạch) và xử lý sạt lở bờ sông, kênh, rạch để chủ động phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sạt lở, bảo đảm an toàn tính mạng, hạn chế thiệt hại tài sản nhân dân và Nhà nước. Đề xuất cơ chế, chính sách hỗ trợ ứng dụng và chuyển giao công nghệ trong phòng, chống sạt lở. Đặc biệt là chính sách hỗ trợ di dời dân cư khỏi khu vực sạt lở và khu vực có nguy cơ xảy ra sạt lở đặt biệt nguy hiểm gắn với sinh kế, ổn định đời sống của người dân. Điều tra cơ bản về sạt lở, dân cư và công trình hạ tầng ven sông, kênh, rạch, trên cơ sở đó xây dựng cơ sở dữ liệu về sạt lở, dân cư và công trình phòng, chống sạt lở, ưu tiên thực hiện tại khu vực đang sạt lở và có nguy cơ cao xảy ra sạt lở trên các hệ thống sông chính. Điều tra, đánh giá diễn biến bùn cát, cập nhật cơ sở dữ liệu khai thác cát; phân vùng rủi ro, lập bản đồ cảnh báo sạt lở bờ sông, kênh, rạch. Cùng với dự báo, cảnh báo sạt lở, nghiên cứu xây dựng phương án tổng thể chỉnh trị và phòng, chống sạt lở bờ sông để cập nhật vào quy hoạch tỉnh.

Giải pháp cấp bách trước mắt là tuyên truyền, hướng dẫn nâng cao nhận thức của người dân, cộng đồng trong phòng, chống sạt lở. Đề xuất thực hiện ngay các công trình khắc phục sự cố sạt lở và khu vực nguy cơ lở đặc biệt nguy hiểm bờ sông, kênh, rạch (nhất là các tuyến đê từ cấp III đến cấp đặc biệt) ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn dân cư, đường giao thông, cơ sở hạ tầng quan trọng. Trong đó, việc xây dựng các công trình bảo vệ đường bờ kết hợp với phương án chỉnh trị sông, kênh, rạch nhằm giữ ổn định tỷ lệ phân lưu, ổn định dòng chảy, hình thái sông, bờ sông tại các khu vực trọng điểm, vùng cửa sông có diễn biến bồi, xói phức tạp. Xây dựng tiêu chí ưu tiên xử lý sạt lở đối với các khu vực sạt lở đặc biệt nguy hiểm.

Ngoài cắm biển cảnh báo tại những khu vực bị sạt lở và khu vực có nguy cơ cao cần kiểm soát chặt chẽ hoạt động khai thác cát, sỏi trên sông, khắc phục tình trạng mất cân bằng bùn cát để hạn chế nguy cơ sạt lở; ngăn chặn, xử lý triệt để tình trạng khai thác cát, sỏi trái phép. Chủ động sắp xếp lại dân cư, di dời khẩn cấp các hộ dân ra khỏi khu vực sạt lở đặc biệt nguy hiểm, khu vực có nguy cơ xảy ra sạt lở đặc biệt nguy hiểm bờ sông, kênh, rạch. Kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm mọi trường hợp cố tình xây dựng mới, tái cất nhà ở, công trình vi phạm hành lang sông, kênh, rạch để chủ động phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sạt lở. Quản lý, kiểm soát hoạt động của phương tiện giao thông đường thuỷ, bộ (tốc độ phương tiện, trọng tải phù hợp) nhằm giảm thiểu tác động gây sạt lở, nhất là trên các tuyến sông, kênh, rạch có kết hợp đường giao thông.

Responsive image

Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thanh Bình khảo sát tình hình sạt lở rạch ông Chưởng, huyện Chợ Mới

Giải pháp lâu dài trong quá trình lập các quy hoạch hạ tầng kỹ thuật của tỉnh và huyện phải có một chương quy định về bảo đảm yêu cầu phòng chống thiên tai, sạt lở đối với việc quản lý, vận hành và sử dụng công trình. Đánh giá, phân loại, xác định các khu vực, vị trí: cần xử lý sạt lở bảo vệ công trình quan trọng, cần điều chỉnh tuyến, di dời dân cư, cần thực hiện các giải pháp phi công trình. Từ đó, đề xuất các khu vực thực hiện các công trình chỉnh trị dòng chảy sông, rạch nhằm giữ ổn định tỷ lệ phân lưu, ổn định dòng chảy, hình thái sông, bờ sông tại các khu vực trọng điểm, vùng cửa sông có diễn biến bồi, xói phức tạp.

Tỉnh phấn đấu đến năm 2030, hoàn thành việc chỉnh trị ổn định dòng chảy tại một số phân lưu, hợp lưu, trên các đoạn sông chính, khu vực cửa sông, đoạn sông cong có diễn biến xói, bồi phức tạp cần chỉnh trị. Rà soát, phân loại đối tượng ở các khu vực cảnh báo sạt lở theo cấp độ (đặc biệt nguy hiểm, nguy hiểm và bình thường), đưa vào quy hoạch, kế hoạch tỉnh thực hiện sắp xếp lại dân cư, tổ chức di dời khẩn cấp các hộ dân ra khỏi khu vực sạt lở bờ sông, kênh, rạch; bố trí tái định cư. Xây dựng, lắp đặt hệ thống quan trắc hiện đại, tự động 4.0. Xây dựng công trình phòng, chống sạt lở bảo vệ khu đô thị, khu dân cư tập trung đã và đang có nguy cơ sạt lở theo quy hoạch, kế hoạch. Cùng với quan tâm nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ trong khắc phục để việc ứng phó, khắc phục sạt lở đảm bảo điều kiện lâu dài./.

Hạnh Châu