Những “Quả đấm” quyết định thắng lợi lịch sử năm 1975

(Cổng TTĐT AG)- Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký chính thức ngày 27 tháng 1 năm 1973 đã đánh dấu sự thất bại thảm hại của Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.
Sau Hiệp định, tình hình ngụy quyền Sài Gòn đang trong tình trạng vô cùng “lộn xộn”. Nguyễn Văn Thiệu cùng tướng tá quyết tâm củng cố lực lượng với sự hỗ trợ về chiến thuật quân sự và đôla của Mỹ. Ngụy quyền Sài Gòn tin rằng, Ních-Xơn không bao giờ “bỏ rơi Sài Gòn”. Trước khi rút quân, Mỹ đã giữ lại cho chính quyền Thiệu “gần 700 máy may các loại, 500 khẩu pháo, 400 xe tăng, xe bọc thép và rất nhiều tàu chiến, dự kiến đưa thêm một số lớn binh khí kỹ thuật, tăng dự trữ vật tư chiến tranh của quân ngụy lên mức tối cao, gần 2 triệu tấn” [ ].

Để giành sự hỗ trợ đôla và vũ khí của Mỹ, từ năm 1973, Thiệu “gồng lên” chiến thuật “tràn ngập lãnh thổ”, bằng cách hành quân đánh phá, cầm chân lực lượng bất cứ nơi đâu trong “kế hoạch bình định ba năm 1973 – 1975”, “kế hoạch bình định sáu tháng từ 3/1973 đến 8/1973”, “kế hoạch quân sự Lý Thường Kiệt”, “kế hoạch xây dựng quân đội từ 1974 đến 1979”… Hàng loạt kế hoạch “tháo gỡ” này nhằm đánh bật lực lượng cách mạng ra khỏi miền Nam Việt Nam; tiến chiếm lại những vùng ta đã giải phóng trước và sau hiệp định Paris, tiến tới chia cắt lâu dài đất nước ta, giành sự ủng hộ lâu dài của Mỹ…

Trong vòng 11 tháng của năm 1973, địch đã sử dụng 60 phần trăm quân chủ lực và toàn bộ lực lượng vũ trang, mở trên 360.000 cuộc hành quân lấn chiếm, giải tỏa và hành quân an ninh, tập trung lực lượng lớn tiến công có trọng điểm vào các khu vực giải phóng của ta như Sa Huỳnh, Bắc Công Tum, Chư Nghé, Kiến Đức, Nam Bắc lộ 4 ở Mỹ Tho, Chương Thiện, Núi Dài, Tri Tôn, lấn chiếm hầu hết các vùng ta mới giải phóng trong đợt hoạt động tháng 1 năm 1973, chiếm thêm một số lõm giải phóng của ta[ ].

Trước tình hình gay go của cục diện chiến trường ở miền Nam, nhận định tình hình, chính quyền Sài Gòn có thể cố giữ chân, giữ bộ máy để tạo cơ hội cho Mỹ quay trở lại, hoặc nhận viện trợ của Mỹ để củng cố bộ máy chính trị và quân sự... Nếu ta không đưa ra quyết sách cụ thể sẽ gây khó khăn và bất lợi trong việc thống nhất đất nước. Vì vậy, Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp vào tháng 10 năm 1973 đã chỉ rõ: “Con đường cuả cách mạng miền Nam là con đường bạo lực cách mạng. Bất kể trong tình hình nào, ta cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công và chỉ đạo linh hoạt để đưa cách mạng miền Nam tiến lên”[ ].

Với lòng quyết tâm cao, từ sau Hội nghị, cũng như thực hiện Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung Đảng đưa ra, ở miền Nam, nhiều cuộc phản công của ta vào lực lượng ngụy quyền đồng loạt tăng mạnh, thu được nhiều kết quả to lớn từ cuối những năm 1974 kéo dài đến đầu năm 1975. Với sự tấn công ồ ạt của lực lượng cách mạng, tỷ lệ đào ngũ, tử trận của quân ngụy ngày càng nhiều; các căn cứ đóng quân của ngụy trong thời kỳ “bình định tràn ngập lãnh thổ” lần lượt bị phá vỡ. Sự kiện ta đánh giải phóng hoàn toàn Phước Long từ ngày 18 tháng 12 năm 1974 đến ngày 8 tháng 1 năm 1975, với sự thất bại của quân ngụy lên đến 3.000 tên, ta thu hơn 3.000 súng các loại[ ] đã phát lên một tiếng đại bác đánh dấu sự thất bại của Sài Gòn. Và Mỹ cũng đã bắt đầu “thất sủng” chế độ ngụy quyền Sài Gòn, không như lời hứa khi rút quân.

Nhận định tình hình ngụy quyền Sài Gòn, tình hình thế giới cũng như tương quan lực lượng của ta và địch trong năm 1974 đến 1975, Bộ Chính trị đưa ra quyết tâm chiến lược giải phóng miền Nam:“kế hoạch chiến lược hai năm 1975 – 1976; năm 1975, tranh thủ bất ngờ, tiến công lớn và rộng khắp, tạo điều kiện để năm 1976 tiến hành tổng công kích – Tổng khởi nghĩa, giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Ngoài kế hoạch chiến lược cơ bản hai năm, trong kế hoạch năm 1975, Bộ Chính trị còn dự kiến một phương án khác và một phương hướng hành động cực kỳ quan trọng là: nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975, thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975”[ ].

Để mở màn, cũng như tạo “quả đấm” đầu tiên cho kế hoạch quyết định lịch sử này, việc tạo ra một trận đánh “thử sức” với địch được Bộ Chính trị và Bộ Tổng tham mưu cân nhắc kỹ lưỡng. Qua phân tích tình hình chiến trường ở miền Nam, “vùng mạnh” và “vùng yếu” của địch, Bộ Chính trị và Bộ Tổng tham mưu quyết định lấy Tây Nguyên làm tâm điểm cho “quả đấm” quân sự đầu tiên. Chiến dịch Tây Nguyên được mang mật danh “chiến dịch 275”. Bộ Chính trị cử Đại tướng Văn Tiến Dũng trực tiếp vào Tây Nguyên thay mặt Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh chỉ huy chiến dịch.

Trong “quả đấm” đầu tiên của chiến dịch Tây Nguyên, Buôn Mê Thuột được xem là “điểm huyệt” quan trọng. Qua đánh giá của Ban Chỉ huy chiến dịch và Bộ Tổng tham mưu, nếu ta đánh và làm chủ được Buôn Mê Thuột thì sẽ tạo bàn đạp vững chắc cho các lực lượng đánh phát triển ra toàn Tây Nguyên, và làm phân tán một lực lượng địch; tạo điều kiện cho quân giải phóng đánh chiếm Huế; phần nữa, vì Buôn Mê Thuột được ngụy xem là nơi tập trung sức mạnh khó phần thất bại, nếu ta làm chủ “điểm huyệt” căn cứ Buôn Mê Thuột sẽ làm cho ngụy quyền Sài Gòn hoang mang.

Nhận định được tầm quan trọng “phải giành được Buôn Mê Thuột”, quân ta chuẩn bị một lực lượng mạnh, bí mật, tập trung, giàn thế trận “gài địch”… gần 2 tháng liền. Đúng 2 giờ sáng ngày 10 tháng 3 năm 1975, ta nổ súng đánh vào sân bay Hòa Bình, hậu cứ trung đoàn 53, sân bay thị xã và kho Mai Hắc Đế, mở màn cuộc tiến công Buôn Mê Thuột[ ]. Bị đánh bất ngờ, dồn dập, liên tục với tất cả các lực lượng pháo binh, công binh, bộ binh… quân ngụy ở Buôn Mê Thuột hốt hoảng, chống trả kịch liệt, dùng mọi sức mạnh hiện có và chi viện để phản kích, hòng đánh bật lực lượng ta ra khỏi Buôn Mê Thuột. Nhưng với sự chuẩn bị kỹ lưỡng, dự đoán trước tình thế, quyết tâm đánh chắc, thắng chắc, tiến công ồ ạt,… bọn ngụy ở Buôn Mê Thuột cùng quân viện trợ phản kích lần lượt rút chạy. Ngày 14 tháng 3 ta làm chủ hoàn toàn Buôn Mê Thuột và nhiều nơi ở các tỉnh Kon Tum, Plây Cu.

Trận đánh tan rã hoàn toàn cứ điểm Buôn Mê Thuột của địch tạo một thế đứng vững chắc cho lực lượng của ta đứng chân, làm bàn đạp đánh phát triển các vùng lân cận.

Song song với trận “điểm huyệt” Buôn Mê Thuột trong chiến dịch Tây Nguyên, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương kịp thời chỉ đạo cho Quân đoàn 2 và lực lượng địa phương đánh vào mặt trận Huế. Ngày 19 tháng 3 ta giải phóng Quảng Trị. Tuyến phòng thủ Huế trên đà bị vỡ. Tên trung tướng ngụy Ngô Quang Trưởng thề: “Tôi sẽ chết trên đường phố Huế. Việt cộng phải bước qua xác tôi mới vô được cố đô này”[ ]. Nhưng cái “sĩ khí” của Trưởng chẳng như “lời thề”. “Ngày 21 tháng 3, các lực lượng quân khu Trị Thiên và Quân đoàn 2 đồng loạt tiến công, vượt qua các tuyến phòng thủ của địch hình thành nhiều mũi bao vây Huế”[ ]. Đúng 10 giờ 30 phút, ngày 25 tháng 3 năm 1975, lá cờ cách mạng được kéo lên đỉnh cột cờ trước Ngọ Môn thành phố Huế. Tên trung tướng ngụy Ngô Quang Trưởng phải cho lực lượng “hộ giá” chạy vào cố thủ Đà Nẵng. Rồi khi Đà Nẵng thất thủ, Trưởng lên máy bay vọt ra tàu chiến, chạy vù về “nằm viện” tại Sài Gòn.

Trên đà tiến công, ngày 25 tháng 3, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định mở chiến dịch tấn công Đà Nẵng. Đà Nẵng lúc này trở thành nơi “tập trung” của sự hỗn loạn. Tướng, sĩ ngụy thất thủ ở Huế tràn vào Đà Nẵng tìm đường tẩu thoát vào Sài Gòn; giẫm đạp lên nhau, tranh nhau lên tàu, lên máy bay, cướp của… để chạy chốn.

Trước cảnh hỗn loạn của Đà Nẵng, việc ta tiếp tục tiến công là hoàn toàn hợp thời cơ. Ngày 29 tháng 3, quân ta tiến công đánh Đà Nẵng từ các hướng, với sự liên kết các cánh quân ở nội thành và tiến công, ta chiếm các cứ điểm quan trọng ở Đà Nẵng như sân bay, bán đảo Sơn Trà, núi Non Nước, trung tâm thành phố… Chỉ trong vòng 32 giờ ta đã tiêu diệt và làm tan rã hơn 100.000 quân địch ở Đà Nẵng, chiếm được một căn cứ quân sự liên hợp mạnh, giải phóng Đà Nẵng, thành phố lớn thứ hai ở miền Nam[ ].

Sau khi thất bại ở phòng tuyến quan trọng Đà Nẵng và Cam Ranh, ngụy quyền Sài Gòn đã lộ rõ sự sụp đổ. Để cứu vãn tình hình, Nguyễn Văn Thiệu họp các tướng lĩnh tìm mọi cách “giữ phần đất còn lại”, tạo thế “hàng rào”, bằng mọi giá phải cản bước chân của quân giải phóng. Để “nuôi giấc mộng Sài Gòn”, ngày 28 tháng 3, Tham mưu trưởng Lục quân Mỹ - Uây-en (người cuốn cờ Mỹ khỏi miền Nam sau Hiệp định Paris) đến Sài Gòn hỗ trợ Thiệu lập ra phòng tuyến ngăn chặn quân giải phóng. Trong đó, có 3 tuyến phòng thủ “vững chắc”, bằng mọi giá phải “cố thủ” - tuyến đầu Phan Rang, hậu cứ Xuân Lộc và trung tâm Sài Gòn.

Theo lệnh của Nguyễn Văn Thiệu, bằng bất cứ giá nào cũng phải cố thủ từ Ninh Thuận vào, nếu cần sẽ đem hết lực lượng đánh xả láng tại đó[ ]. Ngày 2 tháng 4 năm 1975, tướng ngụy Cao Văn Viên, Tổng tham mưu trưởng quân đội ngụy gào thét: “quyết tâm giữ phần đất còn lại, cố thủ từ Phan Rang trở vào” và lập ra bộ tư lệnh tiền phương quân khu 3, đóng sở chỉ huy tại Phan Rang, do Nguyễn Vĩnh Nghi, trung tướng ngụy chỉ huy[ ]. Với quyết tâm đó, chứng tỏ, ngụy quyền Sài Gòn đã sẵn sàng đáp trả một trận đánh quyết tử với lực lượng của ta, khi ta tiến đánh phòng tuyến Phan Rang cũng như hậu cứ Xuân Lộc.

Để vượt qua phòng tuyến Phan Rang trong khi lực lượng địch kéo hẳn về đây phòng thủ là sự khó khăn đối với ta. Căn cứ vào tình hình chiến trường lúc bấy giờ, quân ta đang trên đà tiến công mạnh, đánh đâu thắng đó…; trong khi ngụy quyền Sài Gòn đang cố sức hy vọng “giữ thế cờ”, kéo dài cuộc chiến qua mùa mưa, nhằm hạn chế “tốc độ” hành quân của ta, lúc này trong nội bộ ngụy quyền cũng đang “mâu thuẫn” trầm trọng… Đó là những lợi thế cho chúng ta thể hiện quyết tâm thực hiện “quả đấm” phá vỡ phòng tuyến Phan Rang cũng như Xuân Lộc để tiến về Sài Gòn.

Sau hơn nửa tháng vạch ra kế hoạch, tập trung lực lượng các quân đoàn chủ lực từ miền Bắc và Đà Nẵng vào; sự phối hợp tác chiến đồng bộ giữa các lực lượng… ngày 14 tháng 4, ta nổ súng đánh “chốt thép tử thủ” Phan Rang của ngụy. Do dự đoán trước tình hình “ta sẽ đánh” và “tập trung đánh” nên quân ngụy ở phòng tuyến Phan Rang đánh trả quyết liệt. Địch tập trung không quân, lục quân, trận địa pháo từ các nơi hỗ trợ Phan Rang, đẩy lùi lực lượng ta bằng mọi giá. Với quyết tâm cao, hiệp đồng tác chiến nhanh, mạnh, kết hợp uy lực pháo của ta, sau 2 ngày chiến đấu, ta chọc thủng phòng tuyến Phan Rang. Ta tiêu diệt hoàn toàn bộ tư lệnh tiền phương quân đoàn 3, bộ tư lệnh sư đoàn 6 không quân, bộ tư lệnh sư đoàn 2 bộ binh, tiêu diệt 2 lữ đoàn dù, liên đoàn 31 biệt động quân và 1 trung đoàn của sư đoàn 2[ ] ngụy. Bên cạnh đó, ta thu được nhiều vũ khí, thu gần 40 máy bay các loại của địch còn nguyên vẹn.

Phòng tuyến Phan Rang bị “sập” đã thấy rõ sự sụp đổ của ngụy quyền Sài Gòn. Quân ngụy ùn ùn kéo về tuyến sau Xuân Lộc và Sài Gòn, lớp thì “giải ngũ”, tinh thần kháng cự của ngụy ở các cứ điểm từ Phan Rang trở vào Sài Gòn yếu ớt; tuyến phòng thủ “lỏng lẻo” Xuân Lộc đang được ngụy quyền tập trung mọi lực lượng chống giữ, bảo vệ tuyến phòng thủ “trung tâm”.
Với sức mạnh và quyết định lịch sử “giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa” của Bộ Chính trị đưa ra từ khi bắt đầu chiến dịch Tây Nguyên, Bộ Chính trị và Đảng bộ miền Nam quyết tâm tiến đánh Sài Gòn, để “Làm sao lúc kỷ niệm ngày sinh của Bác Hồ, chúng ta đã có mặt ở Sài Gòn”[ ]. Nhằm tạo một sức mạnh tổng thể cho trận đánh quyết định lịch sử, “tiến về Sài Gòn ta quét sạch giặc thù”, Bộ Chỉ huy chiến dịch giải phóng miền Nam gửi điện về Bộ Chính trị đề nghị được đặt tên chiến dịch giải phóng miền Nam lần này là Chiến dịch Hồ Chí Minh. 19 giờ ngày 14 tháng 4 năm 1975, bức điện số 37/TK của Bộ Chính trị gửi đến mặt trận, toàn văn như sau:

“Đồng ý chiến dịch Sài Gòn lấy tên là chiến dịch Hồ Chí Minh”[ ].

Trước khi thần tốc chiến dịch Hồ Chí Minh tiến về Sài Gòn, lực lượng của ta phải làm sập bức tường cản trở cuối cùng Xuân Lộc. Ngày 9 tháng 4 chúng ta đã bắt đầu đánh Xuân Lộc, địch tăng cường tất cả lực lượng cuối cùng để “đánh một trận oai hùng cho thế giới biết và để Mỹ cho thêm viện trợ”[ ]. Với sự huy động mọi lực lượng chống đỡ, tử thủ bằng mọi cách của ngụy quyền Sài Gòn, lực lượng ta hết sức khó khăn, đánh giằng co với địch nhiều ngày liền, chiếm được cứ điểm quan trọng nào thì địch đánh bật ra chiếm trở lại. Bằng quyết tâm “đánh mạnh, thắng nhanh, tránh kéo dài” gây bất lợi cho ta về mặt quân sự và chính trị. Vì vậy, Bộ Chỉ huy chiến dịch tập trung mọi lực lượng đánh vào “chốt ngoan cố tử thủ Xuân Lộc” của địch. Ngày 20 tháng 4 ta hoàn toàn giải phóng Xuân Lộc. Xuân Lộc bị chọc thủng, cánh cửa quan trọng vào Sài Gòn đã được mở; các cánh quân của ta từ các hướng bắc, nam Sài Gòn và ở các tỉnh Trung Nam Bộ đang chuẩn bị chờ lệnh đánh đồng loạt vào Sài Gòn khi có lệnh Tổng tiến công.

Thấy được “nước cờ tàn”, từ ngày 18 tháng 4, chính quyền Mỹ cho di tản người Mỹ rời khỏi Sài Gòn. Trước sự thật lịch sử không thể cứu vãn, chính quyền Thiệu và tướng tá ngụy đành ngậm ngùi nhìn người Mỹ leo vội vã lên những chiếc trực thăng đang đậu chờ trên sân thượng ở những tòa nhà giữa trung tâm để rời khỏi Sài Gòn. Liền sau đó, ngày 21 tháng 4, Nguyễn Văn Thiệu bị “lật đổ”; ngày 26 tháng 4 Thiệu ngậm ngùi vơ vét những thứ có thể vơ vét cùng tùy tùng và gia đình rời khỏi Sài Gòn. Trần Văn Hương lên thay làm “tổng thống” để mong “sắp lại nước cờ tàn”, nào ngờ cũng bị phế truất; Dương Văn Minh lên thay.

Thấy rõ thời cơ đã chín muồi, Bộ Chính trị quyết định “tiến về Sài Gòn ta giết sạch giặc thù”. 17 giờ ngày ngày 26 tháng 4, tiếng súng đầu tiên của chiến dịch Hồ Chí Minh đã nổ ở hướng đông[ ] Sài Gòn. Sáng ngày 27 tháng 4 đồng loạt các hướng đánh vào Sài Gòn[ ].

Cuộc tiến công thần tốc, “quả đấm” lịch sử hàng loạt vào các ổ phản kháng, các cứ điểm của địch trên đường đi đều bị quân giải phóng san bằng, địch lớp tháo chạy, lớp co cụm kéo về Sài Gòn để cùng lớp cuối cùng “tử thủ”. Giữa hàng rào “trung tâm” cuối cùng của Sài Gòn, địch chống trả quyết liệt; tất cả những gì còn lại của chính quyền Sài Gòn lúc này đều đem ra “đánh chặn”; nhiều mũi tiến công của ta bị sựng lại như ở chi khu Thủ Đức, Long Thành, Đức Thạnh, Trảng Bom… Địch vừa chặn đánh, vừa phá vỡ các tuyến cầu, đường dọc suốt về Sài Gòn để cản đường tiến của quân giải phóng; có nơi, địch thành lập cả hàng rào chống tăng; địch cho máy bay từ Tân Sơn Nhất liên tục xuất kích ném bom vào lực lượng ta… Với sức mạnh chống đỡ điên cuồng của địch, có khi cả ngày chiến đấu, quân ta chỉ tiến được hơn 10km trên đường “tiến về Sài Gòn”.

Để phá vỡ tuyến phòng thủ cuối cùng của địch, Bộ Chính trị và Bộ Chỉ huy chiến dịch dốc toàn lực, hợp sức mọi lực lượng pháo binh, không quân, bộ binh… đánh mạnh vào các tuyến phòng thủ của địch. Bên cạnh đó, kết hợp với lực lượng từ trong lòng nội thành Sài Gòn đánh nong ra… Với cách đánh “bức phá mạnh, tiến nhanh”, lần lượt các ổ đề kháng của địch vòng quanh Sài Gòn bị phá vỡ.

10 giờ 45 phút ngày 30 tháng 4, xe tăng của quân giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập. Đúng 11 giờ 30 phút cùng ngày, là cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay phấp phới trên Dinh Độc Lập.

Khoảng 12 giờ trưa, tại đài phát thanh Sài Gòn, tổng thống Dương Văn Minh đã đọc lời tuyên bố đầu hàng vô điều kiện[ ]. Sài Gòn hoàn toàn được giải phóng sau 20 năm chịu sự kiểm soát của Mỹ-ngụy.

       Những “quả đấm” trong cuộc tổng tấn công mùa xuân 1975 minh chứng về tài thao lược quân sự của Đảng ta, một dấu son quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam, mà tiêu biểu là Chiến dịch Hồ Chí Minh, một “quả đấm” quyết định đánh sập chế độ Mỹ - ngụy ở miền Nam Việt Nam, thống nhất đất nước, là những bài học quan trọng trong lịch sử kháng chiến, lịch sử yêu nước của nhân dân Việt Nam.

LIÊU NGỌC ÂN
http://www.angiang.gov.vn