Cổng thông tin điện tử tỉnh an giang

 

Quyết định - Quy Hoạch - Kế Hoạch

ban hỗ trợ doanh nghiệp tỉnh an giang

0296.3.854.164

thuthuchanhchinh@angiang.gov.vn
bản đồ địa giới hành chính

Đặc điểm nhóm đất

30/12/2013

Xem với cở chữ : A- A A+
Nhóm đất phèn

Đất phèn là đất chứa nhiều gốc sunphat (SO42-) và có độ pH rất thấp, chỉ khoảng 2-3.Đất phèn ở An Giang phân bố nhiều ở vùng tiếp giáp với tỉnh Kiên Giang, thuộc địa phận huyện Tri Tôn, Tịnh Biên và một phần của Châu Phú, với tổng diện tích khoảng 30.136 ha, trong đó Tri Tôn chiếm 67%. Nhóm đất này được hình thành do quá trình biển tiến cách đây 6.000 năm để lại, đặc biệt trong môi trường vũng vịnh biển nông, trên đó rừng ngập mặn phát triển mạnh mẽ như đước, sú, mắm…Các loại thực vật này thường tích lũy chất lưu huỳnh trong thân và rễ dưới dạng các hợp chất hữu cơ. Khi những khu rừng này bị vùi lấp, xác của chúng được các vi sinh vật yếm khí phân hủy và thải lưu huỳnh ra môi trường dưới dạng sunfit. Chúng kết hợp với các ion kim loại sắt, nhôm vừa được dòng nước mang đến từ lục địa tạo thành những lớp đất chứa nhiều pyrite.Pyrite chứa trong tầng trầm tích đầm lầy còn gọi là tầng phèn tiềm tàng, nhưng chúng lại dễ bị oxy hóa trong điều kiện tiếp xúc với không khí.Dựa trên nguồn gốc hình thành và mức độ nhiễm phèn trong đất, có thể chia đất phèn ở An Giang thành các loại tầng đất sinh phèn (phèn tiềm tàng), tầng đất than bùn chứa phèn, đất nhiều phèn và đất bị nhiễm phèn.

Nhóm đất phèn tiềm tàng:

Ở An Giang xuất hiện chủ yếu ở địa bàn các xã Vọng Thê, Vọng Đông (Thoại Sơn), Ô Long Vĩ, Thạnh Mỹ Tây (Châu Phú), Tân Tuyến, Tà Đảnh (Tri Tôn), Tân Lợi (Tịnh Biên)… Tuy nhiên, tùy thuộc vào địa hình, bề dày tầng phủ bên trên và mức độ sinh phèn khác nhau, ở một xã như Vĩnh Phú, Thoại Giang, Tây Phú, Vọng Thê tầng sinh phèn xuất hiện ở độ sâu 80-100cm cách mặt đất, càng đi về hướng Tây Nam bề dày tầng phủ càng giảm, tầng phèn xuất hiện gần mặt đất hơn.Hầu hết đất phèn tiềm tàng có thành phần chủ yếu là sét (40,83%), bột 45,13%, cát mịn 4,15%.

Đất phèn nhiều:

Đây là loại đất chưa phát triển có phèn hoạt động rất mạnh, bên dưới là tầng sinh phèn. Loại này phân bố ở các thung lũng hẹp phía Tây và Đông của vùng Bảy Núi. Chúng hình thành một vành đai gần như khép kín vùng đồi núi , bắt đầu từ kênh Vĩnh Tế qua An Nông, vòng qua thung lũng giữa Lạc Quới và núi Phú Cường đến kênh Mới, chạy dọc theo kênh Tám Ngàn nối thông qua Tri Tôn.Thành phần hạt độ chủ yếu là sét chiếm 41,31%, bột 36,68%, cát 4,75%.

Đất phèn ít:

Bao gồm đất phù sa phát triển bị nhiễm phèn và đất nhiễm phèn nặng được thuần thục và rửa trôi. Loại này thường phân bố ở những nơi có địa hình tương đối cao, có sự bồi đắp khá nhiều của phù sa nên tầng phèn tiềm tàng bên dưới được che phủ khá dày (80-100cm), khả năng bị nhiễm phèn nhẹ. Bên cạnh đó, những vùng trước đây bị nhiễm phèn nhưng do có địa hình cao, khả năng rửa trôi tốt nên dần dần đất trở nên ít nhiễm phèn.Thành phần hạt độ hàm lượng sét trong loại đất này rất cao (60-63,9%), bột và cát ít , chứng tỏ đất có độ thoát , thấm nước kém và dẻo chặt, phân bố dọc dưới chân núi Cô Tô, vùng ranh giới của huyện Thoại Sơn và Châu Thành.

Đất than bùn chứa phèn:

Loại đất này được đặc trưng bởi lớp than bùn dày, xốp bên dưới thường phân bố dọc theo các thung lũng sông cổ và lung đìa. Trong đất than bùn độ khoáng tương đối thấp và nghèo nàn nhưng bù lại hàm lượng đạm rất cao; được phân bố dọc theo thung lũng sông cổ ở Tri Tôn, ven theo các cánh rừng tràm Trà Sư, một số ở các xã Lương An Trà , Tà Đảnh.

Đất phù sa ở An Giang có nguồn gốc và môi trường trầm tích đa dạng, do nhiều yếu tố tác động đến môi trường trầm tích, qui mô trầm tích, chế độ trầm tích cũng như vật liệu trầm tích đã tạo nên những loại đất khác nhau.  Đặc tính chung của đất phù sa ở đây là chứa nhiều hữu cơ , pH thấp, ít bị bào mòn, xâm thực mà chủ yếu luôn được bồi đắp hàng năm với mức độ khác nhau trong những điều kiện trầm tích khác nhau. Diện tích khoảng 1.354 ha.Có 2 đơn vị trầm tích là đồng lụt hở và đồng lụt trung tâm.Đồng lụt hở với đặc trưng là địa hình thấp dần khi càng xa sông và nước lũ chi phối mạnh mẽ.
Nhóm đất phù sa
Trên đồng lũ

Đồng lụt trung tâm giữa sông Tiền và sông Hậu được xác định bởi đặc trưng là chiều dày lớn nhờ lún đáy liên tục và lượng phù sa bồi đắp nhiều.Ở An Giang, nhóm đất phù sa chiếm 44,27% tổng diện tích đất toàn tỉnh với khoảng 156.507 ha, chủ yếu phân bố ở các huyện Châu Thành, Châu Phú, Phú Tân, An Phú, Tân Châu, Thoại Sơn, Chợ Mới và một phần của thành phố Long Xuyên, thị xã Châu Đốc . Nhóm đất này bao gồm các nhóm:

Đất cồn bãi:

Phân bố chủ yếu ven sông Tiền , sông Hậu và một phần nhỏ trên sông Vàm Nao, gồm doi sông, cồn sông . Đất do phù sa sông Tiền, sông Hậu bồi đắp , hàm lượng dinh dưỡng cao, không chứa ion gây độc cho cây trồng .Hiện trên địa bàn An Giang có 22 cồn sông. Những bãi bồi đang trong giai đoạn hình thành và phát triển, dân địa phương gọi là cồn như cồn Béo, cồn Tiên ở Vĩnh Hòa, cồn Én ở Tấn Mỹ , cồn Khánh Bình của xã Khánh Hòa… Những cù lao được hình thành lâu đời , có diện tích lớn như cù lao Ông Hổ , cù lao Phó Ba, cù lao Bắc Nam, cù lao Ka Tam Bong, cù lao Bình Thủy.Theo thống kê toàn tỉnh có các cồn và cù lao như sau:

- Trên sông Tiền:

+ Cồn Tào ở xã Vĩnh Hòa, huyện Tân Châu.

+ Cồn Cỏ Găng ở xã Vĩnh Hòa, huyện Tân Châu.
+ Cồn Béo ở xã Vĩnh Hòa , huyện Tân Châu.
+ Cồn Cả ở xã Phú An, huyện Phú Tân.
+ Cù lao Giêng bao gồm 3 xã Tấn Mỹ, Mỹ Hiệp, Bình Phước Xuân, huyện Chợ Mới.
+ Cồn Én ở phía Bắc cù lao Giêng thuộc xã Tấn Mỹ (Chợ Mới).
+ Cồn Phước ở Mỹ Luông , huyện Chợ Mới.- Trên sông Hậu:
+ Cù lao Vĩnh Lộc ở xã Vĩnh Lộc, huyện Tân Châu.
+ Cù lao Bắc Nam ở xã Phú Hữu và xã Quốc Thái, huyện An Phú.
+ Cù lao Ba ở xã Vĩnh Trường, huyện An Phú.
+ Cù lao Cỏ Túc ở xã Vĩnh Trường (An Phú).
+ Cù lao Hà Bao nằm phía Nam của cù lao Vĩnh Trường (An Phú).
+ Cù lao Ka Tam Bong (còn gọi là cù lao Khánh Hòa).
+ Cồn Khánh Bình nằm về hướng Bắc của cù lao Ka Tam Bong ở xã Khánh An .

+ Cù lao Bình Thủy nằm giữa rạch Năng gù và sông Hậu ở xã Bình Thủy, huyện Châu Phú .
+ Cù lao Thị Hòa (còn gọi cồn Bà Hòa) ở xã Bình Thạnh, huyện Châu Thành .

+ Cù lao Ông Hổ (còn gọi cù lao Mỹ Hòa Hưng) ở thành phố Long Xuyên .
+ Cồn Phó Ba ở ấp Mỹ Thạnh, xã Mỹ Hòa Hưng .
+Cồn Phó Quế ở phường Mỹ Long, thành phố Long Xuyên .
+ Cồn Tiên nằm về hướng Đông Bắc cù lao Mỹ Hòa Hưng, xã Mỹ Hòa Hưng .
+ Cồn An Thạnh ở xã Hòa Bình, huyện Chợ Mới .

- Trên sông Vàm Nao :

+ Cồn Tân Hòa ở xã Tân Hòa, huyện Phú Tân .- Địa bàn An Giang có khoảng 13 doi sông :

+ Trên sông Tiền có doi sông Vĩnh Xương, doi Vĩnh Hòa, doi Long Sơn, doi Chợ Vàm, doi Kiến An.
+ Trên sông Hậu có doi sông Phước Hưng, doi Phú Hữu, doi Khánh An, doi Đa Phước, doi Cái Dầu, doi Phú Bình, doi Mỹ Bình . .

Đây là vùng đất có nguồn gốc trầm tích ven sông, được xếp vào nhóm đất phù sa nâu tươi bồi, thoát thủy tốt .

- Nhóm đất phù sa xám nâu được bồi, ít hữu cơ :Nhóm đất phù sa nầy chiếm một diện tích khá lớn ở 4 huyện cù lao : 

Chợ Mới, Phú Tân, An Phú, Tân Châu và dải cánh đồng ven sông Hậu thuộc huyện Châu Phú, Châu Thành. Đây là phần đất bị ngập nước hàng năm vào mùa lũ, địa hình khá bằng phẳng và trải rộng, vật liệu trầm tích chủ yếu là sét, bột, lẫn chất hữu cơ, bề dày lớp phù sa từ 1 – 2m .Hiện nhóm đất này chiếm diện tích khoảng 24.455 ha, dùng để trồng lúa 2 vụ là chủ yếu .

- Nhóm đất phù sa xám nâu ít được bồi :Nhóm đất này thường phân bố ở những địa hình thấp, có cao trình từ 1,0-1,2m , đôi khi trũng cục bộ từ 0,8-1m , thường ở sâu nội đồng , cách xa sông Hậu, sông Tiền và rạch Long Xuyên.Đất có độ phát triển cao từ tầng mặt đến độ sâu 60cm, nhưng ngược lại ở tầng dưới , do đặc tính nước còn ngập nên đất còn ở trạng thái khử và chưa phát triển.Nhóm đất này chiếm diện tích khoảng 44.525ha , trong đó tập trung nhiều ở vùng ven các xã Ô Long Vĩ, Đào Hữu Cảnh,Thạnh Mỹ Tây (Châu Phú), Tân Lập (Tịnh Biên), Vĩnh An, Tân Phú (Châu Thành), Tây Phú, Vĩnh Nhuận, Vĩnh Phú (Thoại Sơn), một phần nhỏ của huyện Chợ Mới và thị xã Châu Đốc.

- Nhóm đất phù sa có phèn:Phân bố chủ yếu tập trung ở các huyện Châu Thành, Châu Phú, Thoại Sơn, Tri Tôn với tổng diện tích 84.872ha, chiếm 24,7% tổng diện tích đất trồng toàn tỉnh. Đất có nguồn gốc chủ yếu là bưng sau đê, địa hình thấp từ 0,8-1m và khá bằng phẳng.Tùy thuộc vào mức độ chứa phèn và phát triển, nhóm đất này có thể chia thành :

+ Đất phù sa có phèn trung bình, ít được bồi, chưa phát triển.- Đất phù sa có phèn trung bình, ít được bồi , phát triển.
+ Đất có phản ứng hơi chua, pH từ 4,7-5,5 , đặc biệt lượng nhôm di động và độ acid tổng số gia tăng nhanh từ độ sâu 90cm trở đi.Nhóm đất này chủ yếu thuộc địa hình thấp, có mức độ bồi tụ yếu.

- Nhóm đất phù sa cổ :Có tổng diện tích khoảng 94.446 ha, chiếm 27,68% tổng diện tích đất ở An Giang, chủ yếu phân bố ở những nơi có địa hình cao (ruộng trên) thuộc 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên. Chúng hình thành nên dãy đồng bằng quanh núi như khu vực quanh núi Dài, núi Cấm, cánh đồng ven kênh Vĩnh Tế giáp biên giới CPC.Đất phù sa cổ không gây độc cho cây trồng nhưng nghèo dinh dưỡng và độ thoát thủy, tơi xốp kém. Tuy nhiên, do ảnh hưởng phù sa mới của sông Hậu, qua các đợt lũ tràn về, nên đã hình thành tầng mặt mới, trộn lẫn với nhiều chất hữu cơ thứ sinh đã tạo thành tầng tích tụ mùn khá dày, thích hợp cho cây trồng.

Nhóm đất đồi núi 

Là nhóm đất được hình thành từ quá trình phong hóa, xâm thực của các đồi núi đá. Sau đó bị các dòng lũ mang xuống tích tụ thành những vành đai thổ nhưỡng xung quanh núi dưới dạng : yếm phù sa, viên chùy, rảnh xói và đất phong hóa.Đất đồi núi chủ yếu phân bố tại 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên, một phần nhỏ ở huyện Thoại Sơn (vùng Ba Thê). Tổng diện tích đất đồi núi ở An Giang khoảng 29.320 ha, chiếm 8,6% tổng diện tích đất của tỉnh.Đất đồi núi được phân thành các loại sau:

Đất sườn tích tại chỗ :

Chủ yếu là đất phong hóa của đá gốc rồi trầm tích tại chỗ dọc theo các sườn núi. Tùy theo địa hình dốc đứng hay lài mà có chiều dày sườn tích khác nhau, nhưng thường không quá 5m. Đất phong hóa ở núi Cấm, núi Phú Cường, Tà Pạ, núi Đất có bề dày tương đối giàu dinh dưỡng và thành phần cơ giới lớn , có tỷ lệ giữa cát và sét tương đối thấp từ 1,25-1,8. Ngược lại đất sườn tích của các núi có cấu tạo đá granitoit thường nghèo dinh dưỡng , tỷ lệ cát và sét từ 2,5-2,8 , thường cát chiếm từ 68-70% . Loại này phân bố khá nhiều ở các núi Cô Tô, núi Dài nhỏ, núi Trà Sư, núi Bà Đội, núi Két…

Đất yếm phù sa:

Đất yếm phù sa thường có tỷ lệ sét kao lin ít. Loại đất này phân bố thành vành đai thấp chạy dài từ chân đồi Tức Dụp đến Ba Chúc, Lê Trì (Tri Tôn) . Thành phần chủ yếu là sét, sét pha, với hàm lượng chất hữu cơ thường cao. Đất có màu xám đen.

Đất thềm cao :    

Là loại đất cát, phân bố quanh chân núi mà người dân gọi là đất “ruộng trên” , phân bố chủ yếu thành dãy ruộng dọc theo chân núi Dài, núi Cấm và vành đai xung quanh cụm núi Dài, núi Két , núi Trà Sư thuộc địa phận các xã Văn Giáo, Thới Sơn, An Cư, Xuân Tô (Tịnh Biên) và các xã Châu Lăng, Núi Tô (Tri Tôn).Đất dọc theo các rảnh núi, khe núi: Gồm cát, sạn sỏi bở rời từ trên núi do mưa lũ kéo xuống, tích lại theo các rảnh núi, khe núi mà thành. Thông thường phân bố thành những thửa ruộng bậc thang, càng xuống chân núi càng rộng . Đất chủ yếu là cát, có lẫn 1 ít chất hữu cơ, phân bố ở các xã Lương Phi, Châu Lăng, Lê Trì (thung lũng giữa núi Cấm và núi Dài), các xã An Cư, Nhơn Hưng, Văn Giáo (Tịnh Biên).

các tin khác