Cổng thông tin điện tử tỉnh an giang

 

Quyết định - Quy Hoạch - Kế Hoạch

ban hỗ trợ doanh nghiệp tỉnh an giang

0296.3.854.164

thuthuchanhchinh@angiang.gov.vn
bản đồ địa giới hành chính

An Giang: Kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2019 tăng 13,33% so cùng kỳ

15/07/2019

Xem với cở chữ : A- A A+
(Cổng TTĐT AG)- Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa 6 tháng đầu năm ước đạt 432,9 triệu USD, tăng 13,33% so cùng kỳ năm trước. Một số mặt hàng chủ yếu của tỉnh như thuỷ sản đông lạnh và gạo đạt kịch bản tăng trưởng theo Kế hoạch 37/KH-UBND ngày 24/1/2019 của UBND tỉnh; riêng rau quả đông lạnh tuy có sự tăng trưởng nhưng không đạt chỉ tiêu theo kịch bản.
Responsive image

Ảnh minh họa

Thuỷ sản đông lạnh xuất được 60.000 tấn, tương đương 144 triệu USD, so cùng kỳ tăng 5,69% về lượng và tăng 6,69% về kim ngạch; Gạo xuất 252.000 tấn, tương đương 128,5 triệu USD, so cùng kỳ tăng 19,25% về lượng và tăng 19,84% về kim ngạch. Rau quả đông lạnh ước xuất đạt 4.400 tấn, tương đương 7,4 triệu USD, so cùng kỳ tăng 8,62% về lượng và tăng 10,28% về kim ngạch. Hàng dệt, may ước xuất được 46,17 triệu USD, so cùng kỳ tăng 20,85%. Túi xách, ví, vali, mũ và ô dù xuất được 15,83 triệu USD, tăng 14,99% và giày dép các loại xuất được hơn 13,1 triệu USD, tăng 9,03%... so với cùng kỳ năm trước. Hàng hóa khác xuất đạt 60,41 triệu USD, so cùng kỳ tăng 12,8%.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu 6 tháng đầu năm ước đạt 75,2 triệu USD, tăng 8,37% so cùng kỳ năm trước; trong đó, thức ăn gia súc và nguyên liệu tăng trên 11 lần; thuốc trừ sâu và nguyên liệu tăng 1,35%; gỗ và sản phẩm gỗ tăng 6,6%... 

Tổng giá trị xuất - nhập qua các cửa khẩu biên giới 6 tháng đầu năm ước đạt 630 triệu USD, tăng 48% so cùng kỳ. Trong đó: Xuất khẩu trực tiếp đạt 148 triệu USD, tăng 40% so cùng kỳ; nhập khẩu trực tiếp đạt 14 triệu USD, tăng 10% so cùng kỳ; hàng hoá đăng ký nơi khác thực hiện xuất khẩu qua cửa khẩu An Giang đạt 468 triệu USD, tăng 52% so với cùng kỳ năm 2018.

Về thuỷ sản đông lạnh

Thị trường xuất khẩu thuỷ sản đông lạnh đã sang 78 nước. Trong đó, 31 nước Châu Á có tỷ trọng cao nhất trong tổng lượng xuất khẩu trực tiếp với gần 54%; còn lại xuất khẩu sang 21 nước Châu Âu; 16 nước Châu Mỹ và 3 nước Châu Đại Dương, 7 nước Châu Phi. Trong đó, Trung Quốc vẫn là thị trường chiếm tỷ trọng cao nhất  với gần 16% trong tổng lượng xuất khẩu trực tiếp; kế đến là thị trường Mexico.

Giá xuất khẩu thủy sản đông lạnh bình quân 6 tháng đầu năm 2019 đạt 2.400 USD/tấn, tăng 1,31% so cùng kỳ; kim ngạch đạt và vượt 7% theo kịch bản của tỉnh.

Về gạo

Thị trường gạo đã xuất khẩu qua 39 nước. Trong đó, 13 nước Châu Á có tỷ trọng cao nhất trong tổng lượng xuất khẩu trực tiếp (79,5%). Kế đến là 11 nước Châu Phi (16,2%) trong tổng lượng xuất khẩu trực tiếp. Tỷ trọng còn lại xuất qua 7 nước Châu Âu, 4 nước Châu Mỹ và 04 nước Châu Đại Dương. 

Trong đó, Trung Quốc vẫn là thị trường chiếm tỷ trọng cao nhất với gần 66 nghìn tấn, chiếm 32% tổng lượng xuất khẩu trực tiếp, tăng gần 14% so cùng kỳ. Kế đến là Malaysia với gần 32 nghìn tấn và Philippin với khoản 29 nghìn tấn.

Về rau quả đông lạnh

Thị trường xuất khẩu rau quả đã xuất khẩu qua được 23 nước. Trong đó, xuất khẩu qua 8 nước Châu Á, 11 nước Châu Âu, 3 nước Châu Mỹ và 1 nước Châu Đại Dương, Mỹ vẫn là thị trường có tỷ trọng cao nhất trong tổng lượng xuất khẩu. Kim ngạch xuất khẩu có sự tăng trưởng nhưng chỉ đạt 93% so kịch bản của tỉnh.

* Dự báo tình hình xuất khẩu trong 6 tháng cuối năm 2019

>Trong 6 tháng đầu năm 2019, kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh nhìn chung có nhiều chuyển biến tích cực, đạt được nhiều kết quả cao hơn so với cùng kỳ năm 2018, tuy nhiên vẫn thấp hơn so kế hoạch đề ra (kịch bản tăng trưởng GRDP 6 tháng là 7,31%). Giá cả các mặt hàng chủ lực (lúa, cá tra) thiếu ổn định đang ở mức thấp; giá cả mặt hàng nhiên liệu đầu vào biến động ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

Thị trường xuất khẩu gạo sẽ tiếp tục cạnh tranh gay gắt với các nhà xuất khẩu lớn như: Thái Lan, Ấn độ và các nước mới nổi như: Campuchia, Myanmar và Pakistan với những loại gạo đạt chất lượng vượt trội. Thay đổi nhu cầu từ các thị trường nhập khẩu truyền thống: Philipines đang muốn mở rộng nguồn cung cấp gạo bằng cách ký thêm biên bản ghi nhớ với Pakistan, Myanmar. Indonesia đưa tuyên bố lượng gạo đủ dùng đến hết tháng 06/2019, như vậy có thể sau tháng 07/2019 Indonesia mới có nhu cầu nhập khẩu gạo.

Tuy nhiên, kinh tế của tỉnh dự báo cũng sẽ có một số thuận lợi như Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp đã triển khai và bắt đầu có hiệu quả, góp phần thúc đẩy tăng trưởng: cây ăn trái sẽ cho thu hoạch nhiều hơn; Đề án giống cá tra 3 cấp đang triển khai thực hiện, dự kiến kết quả tăng sản xuất con giống thêm 200 triệu con. Xuất khẩu thuỷ sản đông lạnh khả năng tiếp tục đà tăng trưởng; các nước Châu Á vẫn là thị trường truyền thống tăng mạnh nhất, sẽ góp phần nâng cao sản lượng và kim ngạch xuất khẩu. 

Thời gian tới, An Giang tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư – kinh doanh, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp; thường xuyên cập nhật thông tin về chính sách, thị trường hàng hóa xuất khẩu và triển khai các đến doanh nghiệp, có giải pháp tháo gỡ khi thị trường có tín hiệu bất lợi đối với các mặt hàng chủ lực của tỉnh; Tiếp tục hỗ trợ Doanh nghiệp củng cố thị trường truyền thống (trong đó ổn định thị trường Trung Quốc). Mở thị trường mới thông qua hỗ trợ DN tham gia: hội chợ ngoài nước, tham gia các đoàn xúc tiến ngoài nước theo chương trình của Bộ Công thương; Tiếp tục thực hiện tốt về công tác dự báo thị trường; công tác quảng bá, hoạt động xúc tiến mở rộng thị trường tiêu thụ,…

Tiếp tục rà soát cắt giảm thủ tục hành chính và thời gian giải quyết thủ tục liên quan hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và người dân; tổ chức đối thoại doanh nghiệp; xây dựng và phát triển thương hiệu Gạo tỉnh An Giang.

Đặc biệt, đối với 02 mặt hàng chủ lực là lúa và cá  với thị trường xuất khẩu của hai mặt hàng chủ lực (gạo, cá) luôn biến động, phụ thuộc quá nhiều vào thị trường, theo Giám đốc Sở Công thương, sẽ chú trọng các giải pháp để tiêu thụ 2 mặt hàng lúa và cá trong thời gian tới như:

Tiếp tục phối hợp với các kênh thông tin thị trường hiện có (Bộ Công Thương, Bộ NN&PTNT, Cục Công tác phía Nam, Vụ Thị trường trong nước, kênh thông tin điện tử chính thống,..), tận dụng tối đa lợi thế từ các nguồn thông tin đánh giá, dự báo thị trường về thị trường, giá cả các mặt hàng nông sản, nhu cầu thị trường, rào cản thương mại, các hiệp định thương mại đã ký kết (đặc biệt là FTA, CPTPP, EVFTA,...). Đồng thời, đa dạng các kênh tiếp cận thông tin thị trường, nhất là thị trường Trung Quốc để kịp thời thông tin đến doanh nghiệp.

Cùng với Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn theo dõi sát  tình hình thu hoạch, diễn biến của vụ lúa hè thu để kịp thời kiến nghị với Bộ Công Thương và Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn đề xuất Chính phủ triển khai đến các doanh nghiệp thực hiện thu mua lúa tạm trữ cho nông dân khi thị trường diễn biến bất lợi.

Bên cạnh đó, theo dự báo của Bộ Công thương, xuất khẩu thủy sản nửa cuối năm 2019 sẽ khả quan hơn so với nửa đầu năm do nhu cầu tiêu dùng thủy sản toàn cầu, đặc biệt là nhu cầu từ Trung Quốc, có khả năng tăng do người tiêu dùng sẽ lựa chọn protein thay thế thịt lợn khi dịch tả lợn châu Phi tiếp tục lan rộng. Căng thẳng thương mại giữa Hoa Kỳ với Trung Quốc và Mê-hi-cô phần nào sẽ tạo cơ hội cho ngành thủy sản Việt Nam. 

Đồng thời, việc Hiệp định thương mại tự do EVFTA đã được ký kết cũng sẽ tạo ra cơ hội đối với ngành thủy sản. 

Khi EVFTA có hiệu lực, ngành thủy sản Việt Nam sẽ có lợi thế cạnh tranh tốt hơn so với Thái Lan, Trung Quốc… Tuy nhiên đây là Hiệp định thương mại thế hệ mới, là một Hiệp định toàn diện và mạnh về thương mại và phát triển bền vững, bao gồm cả các vấn đề về lao động và môi trường có liên quan trong quan hệ thương mại giữa EU và Việt Nam. 

Để tận dụng được ưu đãi, các doanh nghiệp xuất khẩu cần tuân thủ tiêu chuẩn cao về an toàn vệ sinh thực phẩm của EU. Các doanh nghiệp cần chuẩn bị để cung cấp số liệu, hồ sơ, quy trình truy xuất nguồn gốc một cách bài bản để tạo niềm tin cho nhà nhập khẩu thủy sản Việt Nam. Với cam kết xóa bỏ thuế nhập khẩu lên tới gần 100% biểu thuế và giá trị thương mại mà hai bên đã thống nhất, cơ hội gia tăng xuất khẩu cho những mặt hàng Việt Nam có lợi thế như dệt may, da giày, nông thủy sản (kể cả gạo, đường, mật ong, rau củ quả), đồ gỗ, v.v. là rất đáng kể. Mức cam kết trong EVFTA có thể coi là mức cam kết cao nhất mà Việt Nam đạt được trong các FTA đã được ký kết cho tới nay…/.

PTAH

 

các tin khác