Chào mừng bạn đến với Cổng thông tin điện tử Tỉnh An Giang
cổng thông tin điện tử tỉnh an giang

Kỷ niệm 110 năm Ngày sinh đồng chí Ung Văn Khiêm (13/02/1910 -13/02/2020) - người chiến sĩ cộng sản nhiệt thành

Ngày đăng: 10/02/2020

Xem với cở chữ : A- A A+
(Cổng TTĐT AG)- Đồng chí Ung Văn Khiêm sinh ngày 13/02/1910 tại làng Tấn Đức, quận Chợ Mới, tỉnh An Giang (nay là xã Tấn Mỹ, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang), thừa hưởng truyền thống yêu nước của gia đình, quê hương, cùng với tố chất thông minh, nhạy bén về các vấn đề chính trị, đồng chí sớm dấn thân vào con đường đấu tranh cách mạng.

Khi còn là học sinh của Trường Collège de Cần Thơ, Ung Văn Khiêm đã tham gia lãnh đạo các cuộc bãi khóa của học sinh nhân đám tang Cụ Phan Bội Châu và phản đối thực dân Pháp bắt giữ chí sĩ yêu nước Nguyễn An Ninh. Năm 1927, đồng chí tham gia Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, tham gia lớp huấn luyện chính trị của đồng chí Nguyễn Ái Quốc tại Trung Quốc.

Tháng 8 năm 1929, Ung Văn Khiêm tham gia cùng đồng chí Châu Văn Liêm và một số đồng chí khác thành lập An Nam Cộng sản Đảng và được chỉ định làm Bí thư Đặc ủy An Nam Cộng sản Đảng toàn miền Hậu Giang gồm 9 tỉnh: Cần Thơ, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Trà Vinh, Bạc Liêu, Rạch Giá, Sa Đéc, Long Xuyên, Châu Đốc. 

Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, Xứ ủy Nam Kỳ được thành lập, do đồng chí Ngô Gia Tự làm Bí thư. Tháng 6 năm 1930, đồng chí Ung Văn Khiêm làm Bí thư Xứ ủy, thay cho đồng chí Ngô Gia Tự bị địch bắt. 

Từ năm 1931 đến năm 1936, đồng chí bị thực dân Pháp bắt giam ở Khám Lớn, Sài Gòn và đày đi Côn Đảo. Tại đây, đồng chí tích cực tham gia các cuộc đấu tranh do Đảo ủy phát động. Sau khi mãn hạn tù, đồng chí hoạt động công khai trong tổ chức Uỷ ban Hành động của Đông Dương Đại hội, đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ. Năm 1939, đồng chí lại bị thực dân Pháp bắt giam 18 tháng. Chớp thời cơ Nhật đảo chính Pháp (09/3/1945), đồng chí đã đại diện Mặt trận Việt Minh vận động chủ đồn điền người Pháp giao đồn điền Cờ Đỏ cho cách mạng quản lý.

Trong thời gian này, đồng chí cùng các đồng chí trong Xứ ủy Nam Bộ tiếp tục lãnh đạo phong trào cách mạng đang phát triển mạnh mẽ ở các tỉnh thuộc miền Hậu Giang.

Năm 1945, đồng chí Ung Văn Khiêm là Uỷ viên Ban Thường vụ Xứ ủy Nam Bộ. Giữa năm 1945, đồng chí cùng đồng chí Hà Huy Giáp thay mặt Xứ ủy Nam Bộ dự Hội nghị toàn quốc của Đảng từ ngày 13 đến ngày 15/8 và Quốc dân Đại hội ngày 16/8/1945 tại Tân Trào.

Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, đồng chí Ung Văn Khiêm được cử làm Uỷ viên Ban Thường vụ Xứ ủy Nam Bộ. Trong cuộc Tổng tuyển cử toàn quốc đầu tiên năm 1946, đồng chí Ung Văn Khiêm đắc cử Đại biểu Quốc hội khóa I đơn vị tỉnh Long Xuyên. Sau đó, được bầu làm Uỷ viên Uỷ ban Hành chính lâm thời Nam Bộ, Uỷ ban nhân dân Nam Bộ, Uỷ viên Nội vụ Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ. Đồng chí đã cùng Xứ ủy Nam Bộ lãnh đạo, chỉ đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược khi chúng quay trở lại hòng chiếm nước ta một lần nữa. Ngày 25/10/1945, trong phiên họp đầu tiên của Xứ ủy Nam Bộ họp tại Thiên Hộ, Đồng Tháp Mười, đồng chí Ung Văn Khiêm đã để xuất ý kiến phải củng cố bộ đội, phải đưa đảng viên nắm bộ đội. Ý kiến của đồng chí đã được Xứ ủy nhất trí hoàn toàn.

Với tư cách là Uỷ viên Nội vụ Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ, đồng chí đã bàn bạc với Luật sư Phạm Ngọc Thuần - Quyền Chủ tịch Uỷ ban Nam Bộ và đồng chí trực tiếp soạn thảo, ký ban hành Chỉ thị số 4/NV ngày 22/5/1947, một tháng sau, ngày 21/6/1947 ký Chỉ thị 404/NV bổ sung, kêu gọi công chức và viên chức trong cơ quan, bộ máy của Pháp tham gia đấu tranh chống Pháp, tuyệt đối không được hợp tác với giặc. Thực hiện chỉ thị này, Liên đoàn Viên chức và Nghiệp đoàn Sài Gòn - Chợ Lớn đã vận động hàng ngàn thợ thuyền và nhiều nhân sĩ, trí thức, trong đó có nhiều công chức cao cấp rời thành phố ra bưng biền kháng chiến. Công nhân viên chức ở nội thành còn đình công, tháo gỡ máy móc, bí mật lấy hóa chất, thuốc men, vật liệu văn phòng... của địch để gửi ra căn cứ kháng chiến.

Tháng 02 năm 1951, đồng chí được cử làm Trưởng đoàn đại biểu của Xứ ủy Nam Bộ dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II tại Việt Bắc. Tại đây, Hồ Chủ tịch đã nghe đồng chí báo cáo cụ thể về tình hình kháng chiến ở Nam Bộ. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II đã bầu đồng chí Ung Văn Khiêm làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Sau Đại hội, Trung ương quyết định thành lập Trung ương Cục miền Nam thay cho Xứ ủy Nam Bộ, với thành phần là các đồng chí ủy viên Trung ương vừa được bầu tại Đại hội đang hoạt động ở Nam Bộ. Đồng chí Ung Văn Khiêm được chỉ định làm Uỷ viên Trung ương Cục miền Nam. Sau đó, đồng chí được chỉ định làm Bí thư Tỉnh ủy kiêm Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến Hành chính tỉnh Bạc Liêu.

Sau Hiệp định Genève, đồng chí Ung Văn Khiêm được lệnh tập kết ra Bắc. Năm 1955, đồng chí được giao làm Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Trưởng ban Đối ngoại Trung ương. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, đồng chí được bầu lại làm Uỷ viên Trung ương Đảng và được giao nhiệm vụ làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao. 

Trên cương vị Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, đồng chí luôn quán triệt quan điểm của Đảng, Nhà nước là nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ trong quan hệ quốc tế, luôn nắm vững tư tưởng của Bác Hồ “Dĩ bất biến ứng vạn biến” nhằm tăng cường sự đoàn kết quốc tế giữa các đảng và các nước anh em, liên kết gắn bó với các nước thế giới thứ ba, kiên quyết chống mọi âm mưu của đế quốc, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Đầu những năm 60 thế kỷ XX, quan hệ giữa các nước xã hội chủ nghĩa xuất hiện những vết rạn nứt trong nhận thức và hành động. Theo chỉ đạo của Bác Hồ và Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Ung Văn Khiêm đã cố gắng cao nhất trong vai trò cầu nối nhằm hàn gắn, khôi phục sự nhất trí, đoàn kết, bảo vệ lợi ích hệ thống xã hội chủ nghĩa và các nước thế giới thứ ba, tranh thủ sự ủng hộ của các nước đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, củng cố quốc phòng ở miền Bắc và cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ và tay sai Ngô Đình Diệm ở miền Nam.

Bộ trưởng Ung Văn Khiêm đã có những đóng góp phát triển ngành ngoại giao về bộ máy tổ chức, nội dung công tác của Bộ, chế độ và lề lối làm việc.

Năm 1963, đồng chí Ung Văn Khiêm chuyển công tác sang làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ đến năm 1967. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đồng chí Ung Văn Khiêm trở về miền Nam, sống tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đồng chí mất vào ngày 20/3/1991 sau một thời gian dài bệnh nặng.

Tên tuổi của đồng chí Ung Văn Khiêm gắn chặt với một thời kỳ lịch sử của Nam Bộ, của đất nước. Ngay từ khi còn là một học sinh trung học, đồng chí Ung Văn Khiêm đã có mặt trong hàng trăm chiến sĩ xung kích mang tư tưởng Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuộc đấu tranh khốc liệt để giành độc lập dân tộc. Là một trong những người gieo mầm cách mạng ở Nam Bộ, từ giữa những năm 1920 của thế kỷ XX, đồng chí Ung Văn Khiêm thuộc lứa đàn anh, lứa “khai sơn phá thạch” cho con đường cách mạng đầy gai góc của dân tộc. Thuộc lớp học trò đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, đồng chí Ung Văn Khiêm đã tiếp thu và học tập, vận dụng sáng tạo tư tưởng, tính nhân văn, tính quần chúng của Hồ Chí Minh, và chính đồng chí đã rèn luyện, bồi dưỡng bản thân mình trong suốt cuộc đời cách mạng, đóng góp vào xây dựng sự nghiệp lớn lao của Đảng, của dân tộc.

Đồng chí Ung Văn Khiêm là người lãnh đạo tài năng và đức độ, tình cảm và nhân ái, luôn nghĩ đến lợi ích chung, khiêm tốn, cởi mở và trung thực, để cao dân chủ và tôn trọng kỷ luật. “Nếu có một người có quyền mà không thích sử dụng quyền, phải nói đó là đồng chí Ung Văn Khiêm, học trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh” (Điếu văn, do đồng chí Võ Văn Kiệt, Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng Bộ trưởng, đọc trong Lễ truy điệu đồng chí Ung Văn Khiêm, ngày 22/3/1991).

* Tài liệu tham khảo:
1. Những chiến sĩ cộng sản hào kiệt kiên trung,…, Ban Tuyên giáo Thành uỷ thành phố Hồ Chí Minh, NXB Tổng hợp TP.Hồ Chí Minh, 2019.
2. Đồng chí Ung Văn Khiêm, nhà lãnh đạo tiền bối của Đảng, người chiến sĩ cộng sản nhiệt thành, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu, Nhà xuất bản Phương Đông.
3. Ung Văn Khiêm anh Ba nội vụ, Nguyên Hùng, NXB Công an nhân dân, 2005.
Quốc Hùng