Chào mừng bạn đến với Cổng thông tin điện tử Tỉnh An Giang
cổng thông tin điện tử tỉnh an giang

Kỷ niệm 30 năm ngày hội Quốc phòng toàn dân (22/12/1989 - 22/12/2019) và 75 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/2019)

Ngày đăng: 15/11/2019

Xem với cở chữ : A- A A+

I. 30 NĂM THỰC HIỆN NGÀY HỘI QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN (22/12/1989 - 22/12/2019)

1. Tư tưởng Quốc phòng toàn dân trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam 

a) Tư tưởng toàn dân đánh giặc giữ nước của các triều đại phong kiến Việt Nam

Trong suốt tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước, trong điều kiện phải chống lại những thế lực xâm lược hung bạo, hiếu chiến, có tiềm lực kinh tế và quân sự lớn mạnh hơn rất nhiều, ông cha ta đã biết quy tụ, động viên, khơi dậy lòng tự hào, tự tôn dân tộc, phát huy sức mạnh của toàn dân, của cả dân tộc vào công cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước với chủ trương “cử quốc nghênh địch” (cả nước đánh giặc) mà tư tưởng cốt lõi bao trùm là quốc phòng toàn dân và chiến tranh nhân dân. Thực tiễn lịch sử đã chứng minh việc thực hiện chủ trương toàn dân đánh giặc, dân tộc ta đã chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, giữ vững độc lập, tự chủ; đồng thời cũng chỉ ra những bài học đắt giá cho sự xa dân, không dựa vào dân để giữ nước. 

Những chủ trương, chính sách tiêu biểu của các triều đại phong kiến như: Nhà nước Âu Lạc xây dựng thành lũy (Thành Cổ Loa) và kinh đô ở vùng đồng bằng và đông dân cư, chăm lo xây dựng quân đội và chế tạo vũ khí để tăng cường phòng thủ đất nước; Nhà Lý với chính sách “Ngụ binh ư nông” (gửi binh ở nông) để tổ chức lực lượng vũ trang phòng giữ đất nước. Nhà Trần với những quan điểm, chính sách “Vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước chung sức”, “chúng chí thành thành” (ý chí của nhân dân là thành trì vững chắc nhất); “khoan thư sức dân, làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước”. Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã giương cao ngọn cờ nhân nghĩa, chăm lo xây dựng đồng bộ, gắn kết chặt chẽ các yếu tố cơ bản hợp thành tiềm lực và sức mạnh giữ nước: “dân giàu, quốc phú, binh cường” với tư tưởng chủ đạo là “lấy dân làm gốc” đề cao sức mạnh to lớn của nhân dân trong dựng nước và giữ nước – “đẩy thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân”. Khởi nghĩa Tây Sơn của vua Quang Trung – Nguyễn Huệ thực sự là cuộc chiến tranh của nhân dân bởi người lãnh đạo là thủ lĩnh nông dân với tôn chỉ chống áp bức cường quyền để cải thiện đời sống nhân dân đã được nhân dân tin yêu, ủng hộ đã chiến thắng thù trong, giặc ngoài gây dựng nền độc lập cho đất nước. 

Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta từ khởi nguyên cho đến các triều đại phong kiến đã chứng minh: các cuộc khởi nghĩa chống đô hộ và kháng chiến chống xâm lược muốn giành được thắng lợi phải nhất thiết do nhân dân tiến hành và tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân tham gia. Điều đó khiến cho các cuộc khởi nghĩa và kháng chiến trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta luôn có tính nhân văn sâu sắc và hình thành tính quy luật của mọi cuộc chiến tranh yêu nước Việt Nam. 

b) Tư tưởng quốc phòng toàn dân trong thời đại Hồ Chí Minh

Kế thừa, phát triển tư tưởng toàn dân đánh giặc trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, tiếp thu tinh hoa tư tưởng quân sự và kinh nghiệm chiến tranh nhân dân của các nước trên thế giới, sự vận dụng lý luận khoa học Mác – Lê nin về vai trò của quần chúng nhân dân, về khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh nhân dân. Ngay từ khi ra đời, Đảng cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng suốt định ra đường lối kháng chiến toàn dân đúng đắn, phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam với tư tưởng cốt lõi quốc phòng toàn dân là “vì dân, do dân, của dân”, dựa vào dân và phát huy sức mạnh của toàn dân để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Nước lấy dân làm gốc. Trong công cuộc kháng chiến kiến quốc, lực lượng chính là ở dân”, “bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân,…quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. 

Thực tiễn các cuộc khởi nghĩa, các cuộc chiến tranh giải phóng và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc do nhân dân ta tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng đã chứng minh sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, được định hướng và quy tụ với ngọn cờ tư tưởng thống nhất độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội đúng như Chủ tịch Hồ Chí  Minh đã khẳng định: “không quân đội nào, không khí giới nào có thể đánh ngã được tinh thần hy sinh của toàn thể một dân tộc”. 

Tư tưởng về sức mạnh của nhân dân, tập hợp lực lượng trong quần chúng nhân dân của Đảng và Bác Hồ đã được thể hiện qua các văn kiện của Đảng và chính trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất (3/1935), đã khẳng định: “ Đảng muốn chỉ huy nổi phong trào, muốn đưa cao trào cách mạng mới lên tới trình độ cao, tới toàn quốc vũ trang bạo động, đánh đổ đế quốc phong kiến, lập nên chính quyền Xô Viết, thì trước hết cần phải thâu phục quảng đại quần chúng”. Trong thư kêu gọi tổng khởi nghĩa (8/1945), lãnh tụ Hồ Chí Minh viết: “giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/12/1946): “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ ai là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”. Trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định tính chất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là cuộc kháng chiến toàn dân, cuộc chiến tranh nhân dân. Người kêu gọi: “31 triệu đồng bào ta ở cả hai miền, bất kỳ già trẻ, gái trai, phải là 31 triệu chiến sĩ anh dũng diệt Mỹ, cứu nước, quyết giành thắng lợi cuối cùng”. 

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 và thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 với chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước chính là những biểu tượng sinh động nhất của sức mạnh toàn dân kháng chiến, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ cứu nước đã khẳng định sự phát triển của chiến tranh nhân dân lên một tầm cao mới. Toàn dân kháng chiến là nét đặc sắc trong tư tưởng chỉ đạo tác chiến và xây dựng lực lượng trong đường lối quân sự của Đảng suốt 30 năm chiến tranh (1945 – 1975). Chiến tranh nhân dân đã tạo ra sức mạnh vô địch để dân tộc ta chiến thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. 

c) Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh trong tình hình mới 

Sau năm 1975, cả nước thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội. Để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân, bảo vệ thành quả cách mạng và lợi ích quốc gia dân tộc, chủ trương xây dựng nền quốc phòng toàn dân tiếp tục được thực hiện trên phạm vi cả nước. Qua các kỳ Đại hội của Đảng, từ Đại hội IV đến Đại hội lần thứ XII, quan điểm của Đảng ta về xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh từng bước phát triển và hoàn thiện với nội dung ngày càng cụ thể, đầy đủ, toàn diện, sâu sắc và bao quát hơn. 

Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (12/1976) khẳng định: “Để bảo vệ sự nghiệp cách mạng XHCN, bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển, biên giới và hải đảo của Tổ quốc trong giai đoạn mới của cách mạng, chúng ta phải tích cực xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh. Sức mạnh quốc phòng của nhân dân ta là sức mạnh của đường lối chính trị, quân sự của Đảng, là sức mạnh tổng hợp, toàn diện của chế độ XHCN. Nhiệm vụ xây dựng và củng cố quốc phòng là nhiệm vụ của toàn dân, toàn quân, của hệ thống chuyên chính vô sản dưới sự lãnh đạo của Đảng”. 

Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V (3/1982) xác định: “Phải xây dựng nền quốc phòng toàn dân, toàn diện và hiện đại dựa trên cơ sở không ngừng củng cố và tăng cường chế độ làm chủ tập thể của nhân dân lao động về mọi mặt…tăng cường đoàn kết các dân tộc, đoàn kết quân dân. Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, từng bước phát triển công nghiệp quốc phòng đi đôi với tăng cường tiềm lực kinh tế của đất nước. Đó là những yếu tố tạo nên sức mạnh tổng hợp của công cuộc bảo vệ Tổ quốc”. 

Bước vào thời kỳ đổi mới, Nghị quyết Đại hội lần thứ VI (12/1986) chỉ rõ: “ Tăng cường quốc phòng và an ninh của đất nước. Phát huy sức mạnh của cả hệ thống chuyên chính vô sản, kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, đẩy mạnh công cuộc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân và hậu phương ngày càng vững mạnh, giáo dục quốc phòng toàn dân, xây dựng QĐND chính quy và ngày càng hiện đại; xây dựng lực lượng dân quân tự vệ và dự bị, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, thực hiện nghiêm chỉnh Luật nghĩa vụ quân sự và các chính sách hậu phương quân đội”. 

Trong cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội (1991) đề ra định hướng lớn về quốc phòng- an ninh: “Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của toàn dân và của Nhà nước. Không ngừng nâng cao giác ngộ và cảnh giác chính trị của nhân dân, xây dựng vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân, kết hợp chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân trong điều kiện mới với những lực lượng nòng cốt, tinh nhuệ”. 

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (6/1996) xác định nhiệm vụ quốc phòng và an ninh trong những năm tới là: “phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, của cả hệ thống chính trị, từng bước tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh của đất nước, xây dựng vững chắc nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân và thế trận an ninh nhân dân…”. 

Báo cáo chính trị tại Đại hội IX của Đảng xác định: “sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh của lực lượng và thế trận quốc phòng toàn dân với sức mạnh của lực lượng và thế trận an ninh nhân dân…Tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước và của toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân, Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt”. 

rong cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) xác định: “tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước và của toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân, Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân kết hợp chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Phát triển đường lối, nghệ thuật quân sự chiến tranh nhân dân và lý luận khoa học an ninh nhân dân. Chủ động tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng an ninh”. 

Đại hội XII của Đảng tiếp tục xác định: “Tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc”, xây dựng “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân”. 

Như vậy, có thể thấy, qua các kỳ Đại hội, cùng với việc đề ra đường lối, chủ trương phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, giáo dục, đối ngoại và công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; Đảng ta luôn chú trọng lãnh đạo xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững chắc, khẳng định sức mạnh của toàn dân có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp củng cố quốc phòng, an ninh và nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới. 

2. Lịch sử và ý nghĩa ngày Hội Quốc phòng toàn dân 

Đảng, Nhà nước ta luôn nhất quán khẳng định, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị, trong đó LLVT nhân dân làm nòng cốt. Nền quốc phòng Việt Nam là nền quốc phòng mang tính chất hòa bình, tự vệ và mang bản chất của chế độ XHCN. Nhiệm vụ của nền quốc phòng là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN; giữ vững hòa bình, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội; chủ động đấu tranh, ngăn chặn làm thất bại mọi âm mưu, hành động chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Thực tiễn cách mạng nước ta đã khẳng định, bất kỳ giai đoạn nào, dù phải đương đầu với kẻ thù hung bạo đến đâu, nếu cổ vũ, động viên và quy tụ được sức mạnh của toàn dân thì dân tộc ta đều giành thắng lợi vĩ đại, bảo đảm sự bền vững của độc lập, tự do, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ. 

Xuất phát từ vai trò của công tác tuyên truyền, cổ vũ, động viên toàn dân tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, đồng thời thể theo nguyện vọng của quân và dân cả nước, ngày 17/10/1989, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VI) đã ra Chỉ thị số 381-CT/TƯ quyết định lấy ngày 22/12 - ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam là Ngày Hội quốc phòng toàn dân. Ngày 22/12/1989, lần đầu tiên Ngày Hội quốc phòng toàn dân được tổ chức tại tất cả các địa phương trong cả nước. Từ đó đến nay, ngày 22/12 đã trở thành ngày hội lớn của toàn dân tộc với các hoạt động hướng vào chủ đề quốc phòng và quân đội. 

Lấy ngày 22/12 là Ngày hội Quốc phòng toàn dân là chủ trương lớn, quan trọng của Đảng, Nhà nước; tiếp tục khẳng định quan điểm toàn dân tham gia xây dựng, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong đó LLVT nhân dân làm nòng cốt. Đây thật sự là ngày hội của truyền thống dựng nước và giữ nước, ngày hội tôn vinh và nhân lên hình ảnh cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” - một nét độc đáo của văn hóa dân tộc Việt Nam trong thời đại mới. 

Ngày hội Quốc phòng toàn dân là dịp để tuyên truyền sâu rộng truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc và phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, giáo dục lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội; từ đó nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn dân tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh gắn với thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc, tăng cường sức mạnh bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời cổ vũ, động viên toàn dân chăm lo xây dựng LLVT nhân dân vững mạnh trên từng địa phương, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hùng mạnh đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. 

Hàng năm, toàn dân và toàn quân đã có rất nhiều hoạt động phong phú, sáng tạo để tổ chức kỷ niệm Ngày Hội quốc phòng toàn dân và Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam như: mít tinh, hội thảo, tọa đàm, gặp mặt, giao lưu, nói chuyện truyền thống…, các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, chăm lo gia đình chính sách, người có công cách mạng, dâng hương tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ…Cấp ủy, chính quyền địa phương chú trọng đẩy mạnh các phong trào thi đua lao động sản xuất, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói giảm nghèo gắn với xây dựng và phát triển tiềm lực quốc phòng, an ninh; vận động quần chúng nhân dân tích cực tham gia xây dựng và củng cố quốc phòng, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội để phát triển đất nước nhanh và bền vững. 

3. Những thành tựu cơ bản qua 30 năm thực hiện Ngày Hội Quốc phòng toàn dân 

Qua 30 năm thực hiện Ngày hội Quốc phòng toàn dân, chúng ta đã đạt được những thành tựu quan trọng sau đây:

Một là, nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của toàn dân đối với sự nghiệp củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. 

Nhận thức của các cấp, các ngành, của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng thế trận QPTD và thế trận an ninh nhân dân, xây dựng LLVT nhân dân ngày càng đầy đủ, sâu sắc hơn. Nhân dân đồng thuận, tin tưởng, đoàn kết và không ngừng nâng cao ý thức, trách nhiệm trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Công tác tuyển chọn gọi công dân nhập ngũ tại các địa phương trên cả nước hàng năm đều được tổ chức như ngày hội phát huy truyền thống giữ nước của dân tộc. Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng để nâng cao hiệu quả công tác bồi dưỡng, giáo dục kiến thức quốc phòng an ninh cho cán bộ công chức và các tầng lớp nhân dân và được triển khai thực hiện tích cực, toàn diện ở các cấp, các ngành, các địa phương và trong toàn dân, góp phần nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, làm chuyển biến về nhận thức trong toàn xã hội và các tầng lớp nhân dân về nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân và nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới. 

Hai là, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm môi trường ổn định, hòa bình và an ninh cho sự phát triển đất nước; làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, góp phần quan trọng vào quá trình đổi mới đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Đây là thành tựu to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta trong 30 năm thực hiện Ngày Hội quốc phòng toàn dân và sau hơn 30 năm đổi mới đất nước. Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội (2011- 2015) tại Đại hội XII của Đảng đánh giá: “ Tiềm lực quốc phòng, an ninh được tăng lên. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bằng các giải pháp phù hợp để bảo vệ chủ quyền quốc gia và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển kinh tế -xã hội. Thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân được củng cố và gắn kết chặt chẽ hơn. Sức mạnh tổng hợp và khả năng sẵn sàng chiến đấu của quân đội nhân dân, công an nhân dân được nâng lên”.  

Ba là, sức mạnh bảo vệ Tổ quốc được tăng cường, tăng thêm khả năng ngăn chặn và loại trừ nguy cơ chiến tranh và khả năng đối phó thắng lợi các tình huống chiến tranh và các tình huống xâm phạm an ninh quốc gia, nếu xảy ra.

Trong những năm qua, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã ra sức chăm lo xây dựng đất nước vững mạnh trên tất cả các mặt nhằm tạo ra thế và lực mới, làm cho đất nước có đủ sức mạnh cần thiết để răn đe, sẵn sàng đối phó có hiệu quả với các nguy cơ xâm lược từ bên ngoài; có đủ sức mạnh để đánh bại các thế lực có âm mưu và hành động xâm lấn lãnh thổ, xâm hại độc lập chủ quyền và lợi ích quốc gia, dân tộc. Công tác đối ngoại của Đảng và đối ngoại quốc phòng đã đạt được những thành tựu nhất định, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế và khu vực.

Bốn là, xây dựng thế chiến lược bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN phù hợp với điều kiện mới; thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân bảo vệ Tổ quốc được triển khai rộng khắp, chặt chẽ, liên hoàn, “thế trận lòng dân” được củng cố vững chắc. 

Trong thời gian qua, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã tích cực đẩy mạnh triển khai thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa X và Nghị định 152/2007/NĐ-CP của Chính phủ “về tiếp tục xây dựng các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới”; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân ở từng khu vực và trên địa bàn cả nước. Thế bố trí chiến lược quốc phòng, an ninh được quy hoạch, điều chỉnh phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Ban chỉ đạo về xây dựng khu vực phòng thủ đã được xây dựng, kiện toàn đầy đủ theo hệ thống từ Trung ương đến các địa phương. 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã tích cực huy động các nguồn lực đầu tư vào việc xây dựng và hoàn thiện khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố ngày càng vững chắc. Các tỉnh, thành đã chú trọng đầu tư kinh phí từ nguồn ngân sách địa phương để xây dựng các khu căn cứ tập trung, hệ thống công trình quốc phòng, quy hoạch căn cứ hậu cần - kỹ thuật bảo đảm cho cho thế trận phòng thủ trên từng địa bàn; tổ chức tốt diễn tập khu vực phòng thủ ở các cấp nhằm kiểm nghiệm sự vận hành cơ chế về tổ chức, lãnh đạo, chỉ huy, động viên lực lượng, cơ sở vật chất khi chuyển địa phương từ thời bình sang thời chiến. Tập trung xây dựng tiềm lực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quân sự và an ninh của khu vực phòng thủ được tăng cường, góp phần hình thành một thế trận tổng hợp, gắn kết thực lực quốc phòng, tiềm lực quốc phòng và tiềm năng quốc phòng tạo ra thế trận liên hoàn để bảo vệ Tổ quốc; khả năng bảo vệ địa bàn, ứng phó với các tình huống quốc phòng, an ninh được nâng cao; việc vận hành cơ chế lãnh đạo, điều hành hoạt động khu vực phòng thủ từng bước được hoàn thiện. Cơ quan quân sự địa phương đã phát huy tốt vai trò tham mưu giúp cấp ủy, chính quyền địa phương lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức xây dựng khu vực phòng thủ đi vào chiều sâu, vững chắc. Thực hiện tốt chủ trương kết hợp chặt chẽ kinh tế, văn hóa, xã hội với quốc phòng, an ninh và quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; chăm lo thực tốt chính sách hậu phương quân đội, các chính sách an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đồng bào tôn giáo, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, căn cứ kháng chiến cũ….Kết quả đó đã góp phần tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc trên địa bàn quân khu, các tỉnh, thành phố; đảm bảo giữ vững ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. 

Năm là, lực lượng vũ trang mà nòng cốt là Quân đội nhân dân có chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu ngày càng cao, phát huy được vai trò trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Trong những năm qua, LLVT nhân dân không ngừng được củng cố, xây dựng và phát triển vững mạnh. Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành, cấp ủy và chính quyền địa phương, các tầng lớp nhân dân đã tích cực chăm lo xây dựng LLVT vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức. LLVT nhân dân mà nòng cốt là Quân đội nhân dân có chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu ngày càng cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; đã kịp thời ngăn chặn, dập tắt các vụ gây rối, bạo loạn chính rị, vô hiệu quá hoạt động của các đối tượng phản động trong và ngoài nước, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; đồng thời trực tiếp tham gia lao động sản xuất có hiệu quả, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng đất nước. 

Quán triệt, cụ thể hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương - Bộ Quốc phòng đã ban hành các nghị quyết, đề án, kế hoạch sắp xếp bộ máy tổ chức, biên chế theo hướng tinh, gọn, mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; chú trọng xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, xây dựng bản lĩnh kiên định, vững vàng, giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”; tích cực đấu tranh, vô hiệu hóa âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa” quân đội, kiên quyết phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. 

Các đơn vị trong toàn quân từng bước được trang bị các phương tiện, vũ khí, trang bị kỹ thuật tương đối hiện đại; huấn luyện thuần thục, bảo đảm sẵn sàng chiến đấu cao, khả năng cơ động nhanh, tác chiến hiệu quả cả trên không, trên bộ, trên biển và không gian mạng. Thông qua các cuộc diễn tập tác chiến cấp chiến dịch, chiến lược những năm gần đây đã kiểm nghiệm, đánh giá đúng khả năng sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của Quân đội, giữ vững vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân. 

Cùng với xây dựng lực lượng thường trực vững mạnh, lực lượng dự bị động viên được xây dựng hùng hậu, dân quân tự vệ được xây dựng rộng khắp, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống. Các bộ, ngành Trung ương và địa phương đã đăng ký quản lý hàng triệu quân nhân dự bị và hàng triệu phương tiện kỹ thuật; sắp xếp đủ đầu mối tổ chức các đơn vị dự bị động viên, chất lượng từng bước được nâng cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Tỷ lệ dân quân so với dân số toàn quốc ngày một tăng lên và chất lượng không ngừng được nâng cao. Đã thành lập 67 Ban chỉ huy quân sự bộ, ngành Trung ương; hàng nghìn Ban chỉ huy quân sự đơn vị thành viên thuộc các bộ, ngành Trung ương và các cơ quan, tổ chức thuộc cấp tỉnh, cấp huyện; toàn quốc đã đào tạo được hơn 24 nghìn cán bộ quân sự cấp xã có trình độ từ trung cấp đến đại học chuyên ngành quân sự cơ sở, góp phần nâng cao trình độ năng lực tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương cấp xã trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng tại địa phương. 

4. Những kết quả tiêu biểu của tỉnh An Giang qua 30 năm thực hiện Ngày hội quốc phòng toàn dân 

Trong 30 năm qua, Tỉnh ủy, UBND tỉnh luôn tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo và ban hành nhiều văn bản triển khai thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng địa phương, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, đặc biệt là xây dựng khu vực phòng thủ theo tinh thần Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 22/9/2008 của Bộ Chính trị (khóa X) về tiếp tục xây dựng các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới (Nghị quyết số 28-NQ/TW của Bộ Chính trị); Chỉ thị số 09-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc trong tình hình mới” và Chương trình hành động số 23-CTr/TU ngày 21/5/2009 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về “Tiếp tục xây dựng các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới”. Cụ thể trong các Chỉ thị, Nghị quyết, Chương trình, Đề án, Quy hoạch, Kế hoạch của Tỉnh ủy, UBND tỉnh; cơ quan quân sự các cấp làm nòng cốt phối hợp với ban, ngành, đoàn thể và địa phương xây dựng kế hoạch, triển khai thực hiện đồng bộ, chặt chẽ theo lộ trình, gắn với việc thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng địa phương, xây dựng nền QPTD đạt được nhiều kết quả thiết thực, góp phần xây dựng khu vực phòng thủ (KVPT) vững mạnh, đủ sức ngăn chặn làm thất bại âm mưu và hoạt động “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, xử lý kịp thời các tình huống về quốc phòng, an ninh (QP-AN), giữ vững chủ quyền lãnh thổ, bảo vệ vững chắc KVPT tỉnh, huyện trong mọi tình huống. 

Công tác tuyền truyền, phổ biến, quán triệt đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quốc phòng và xây dựng nền QPTD; công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh trong các cơ quan, tổ chức và đối với công dân thường xuyên được cấp ủy, chính quyền, cơ quan quân sự và các sở, ban, ngành, đoàn thể địa phương quan tâm tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và nhân dân về quốc phòng, về xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. 

Với đặc thù là tỉnh trọng điểm về QP-AN, nằm trên hướng phòng thủ chủ yếu đường bộ và được xác định là KVPT then chốt trọng yếu của Quân khu 9. Trong giai đoạn (2009 – 2019), Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã xây dựng đề án xây dựng KVPT như: xây dựng về chính trị tinh thần, về KT-XH, về QP-AN; về khoa học-kỹ thuật, về đối ngoại nhà nước, đối ngoại nhân dân, …Trên cơ sở quy hoạch xây dựng thế trận khu vực phòng thủ và thế bố trí công trình quốc phòng, tỉnh tổ chức xây dựng hoàn thành trên 80% khối lượng công trình Sở Chỉ huy tổng hợp, với tổng mức đầu tư 174 tỷ đồng; quy hoạch, xây dựng 159 công trình chiến đấu, đường tuần tra biên giới dự toán mức đầu tư khoảng 394,5 tỷ đồng. Đồng thời, đầu tư cải tạo, nâng cấp, sửa chữa các công trình chiến đấu hiện có của tỉnh để bảo đảm thực hiện yêu cầu, nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu khi có tình huống xảy ra. Đã tham mưu, chỉ đạo diễn tập khu vực phòng thủ cấp tỉnh, huyện và diễn tập chiến đấu phòng thủ cấp xã được 338 lần (cấp tỉnh 04 lần, cấp huyện 18 lần, cấp xã 316 lần, có 01 lần tham gia diễn tập cùng Bộ về tác chiến chiến lược chiến trường Miền nam); kết quả diễn tập đều đạt mục đích, yêu cầu đề ra. Qua đó vận hành đồng bộ cơ chế theo Nghị quyết 28-NQ/TW của Bộ Chính trị, LLVT đã nâng cao được trình độ chỉ huy, hiệp đồng, phối hợp trong xử trí các tình huống và cấp ủy, chính quyền, ban, ngành, đoàn thể các cấp nâng cao nhận thức, phát huy vai trò, trách nhiệm trong xây dựng và hoạt động KVPT. 

Đặc biệt, năm 2013, Bộ CHQS tỉnh tham mưu UBND ban hành Đề án xây dựng chốt Dân quân, chốt Bộ đội biên phòng tuyến biên giới và bảo đảm trang bị tuần tra biên giới (21 chốt, 05 cây cầu, 09 đường ra chốt), tổng mức đầu tư 232 tỷ đồng; năm 2017, An Giang được Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Quốc phòng chọn làm điểm tổ chức hội nghị tham quan, nghiên cứu và trao đổi kinh nghiệm xây dựng Chốt chiến đấu của dân quân thường trực biên giới đất liền và được Bộ Tư lệnh Quân khu nghiên cứu xây dựng đề tài khoa học nghệ thuật quân sự: "Tổ chức xây dựng và hoạt động chốt dân quân bảo vệ biên giới Tây Nam trong tình hình mới" thông qua Hội đồng xét duyệt thuyết minh đề tài khoa học nghệ thuật quân sự cấp Bộ.

Tỉnh ủy, UBND tỉnh luôn quan tâm xây dựng, nâng cao chất lượng tổng hợp, hiệu quả hoạt động của LLVT địa phương tỉnh. Bộ đội địa phương được tổ chức đúng quy định, đạt 98,50% so với biên chế, chất lượng đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ; cán bộ các cấp đều được đào tạo cơ bản. Dân quân tự vệ xây dựng đúng theo Luật hiện hành, đạt 1,01% so với dân số; chất lượng đảng viên đạt 18,99%, có 156/156 chi bộ quân sự; 93/156 chi bộ có chi ủy, đạt 59,61%. Dự bị động viên được đăng ký, quản lý và xây dựng đúng theo quy định; hiện đã xếp nguồn đạt 99,75%, phương tiện kỹ thuật đạt 100%, tỷ lệ đảng viên đạt 12,93%; xếp nguồn cho đơn vị Bộ đạt 100%, các đơn vị Quân khu đạt 98,81%, đơn vị của tỉnh đạt 99,91%; xếp nguồn phương tiện kỹ thuật cho các đơn vị Quân khu, tỉnh đạt 100%.

Quá trình quy hoạch, xây dựng kế hoạch phát triển KT-XH đều tính toán đến các yếu tố kết hợp với quốc phòng, an ninh và ngược lại. Trong quy hoạch, xây dựng kế hoạch đều được thảo luận, lấy ý kiến thống nhất với cơ quan quân sự, cơ quan công an nhằm bảo đảm sự thống nhất, đồng lực, bảo đảm phát triển KT-XH không ảnh hưởng đến thế trận quốc phòng, thế trận an ninh, đồng thời quá trình quy hoạch xây dựng thế trận QP-AN không gây cản trở đến phát triển KT-XH. Năm 2018, tỉnh An Giang được Chính phủ lựa chọn và đầu tư doanh nghiệp (công ty Cổ phần Cơ khí An Giang) làm điểm phát triển dự án phát triển kinh tế gắn với công nghiệp quốc phòng với tổng kinh phí đầu tư 3,41 tỷ đồng.

Công tác xây dựng thực lực và tiềm lực quốc phòng, hệ thống chính trị, khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc góp phần  xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng khu vực phòng thủ địa phương vững chắc đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Thường xuyên kiện toàn, củng cố hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở, thực hiện nghiêm túc công tác quy hoạch nguồn, đào tạo bồi dưỡng, bố trí, luân chuyển đội ngũ cán bộ các ngành, các cấp bảo đảm năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, triển khai thực hiện thắng lợi nhiệm vụ địa phương, mạnh dạn trong việc thực hiện thí điểm mô hình củng cố kiện toàn hệ thống chính trị theo tình thần nghị quyết của Đảng. 

Phát huy tốt vai trò của cấp ủy, chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tập trung xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện, thực hiện có hiệu quả quy chế dân chủ cơ sở, các chương trình, đề án, chính sách an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, chung tay vì người nghèo không để ai bị bỏ lại phía sau, chính sách hậu phương quân đội và phong trào “đền ơn đáp nghĩa”…Cụ thể, trong giai đoạn 2009-2019, các cơ quan, tổ chức, đoàn thể địa phương với LLVT tỉnh đã vận động cán bộ, chiến sĩ tham gia đóng góp các quỹ nhà “Tình đồng đội”, quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”, quỹ “Ngày vì người nghèo”, quỹ “An sinh xã hội”, quỹ “Bảo trợ trẻ em và người già”...với tổng số tiền hơn 9 tỷ đồng, quỹ “Ấm tình hậu phương” vận động đóng góp hỗ trợ cho 103 gia đình chiến sĩ mới có hoàn cảnh khó khăn, với số tiền là 639.740.000 đồng. Tổ chức quán triệt, triển khai thực hiện tốt các Quyết định số 290, 142, 62, 49 của Thủ tướng Chính phủ, đề nghị Quân khu ra Quyết định chi trả kịp thời cho 28.322 đối tượng được hưởng chính sách với số tiền 90,4 tỷ đồng; công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ cũng được quan tâm đúng mức, đã cất bốc được 1.400 hài cốt liệt sỹ (trong đó, hài cốt Liệt sỹ ở Campuchia 758; trong nước 642) tổ chức lễ truy điệu, an táng trang nghiêm, chu đáo; phối hợp thực hiện tốt đề án công tác quy tập và lập bản đồ hoàn thiện dữ liệu thông tin về Liệt sỹ và mộ Liệt sỹ.

Hàng năm, Tỉnh ủy, UBND tỉnh đều lãnh đạo, chỉ đạo cơ quan quân sự tỉnh chủ trì phối hợp với các Sở, ngành, mặt trận, đoàn thể tỉnh kết hợp chặt chẽ việc tổ chức kỷ niệm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam gắn với ngày hội QPTD bằng nhiều hình thức, phương pháp hoạt động phong phú như: Tuyên truyền mục đích, ý nghĩa ngày hội QPTD rộng rãi toàn hệ thống thông tin đại chúng; treo băng rol, khẩu hiệu tuyên truyền ngày hội QPTD trên các tuyến đường, nơi công cộng ở các địa phương; tổ chức hội thi, hội thao quốc phòng; tổ chức mitting tuyên truyền ngày hội QPTD; đặc biệt là tổ chức “Tết quân dân” trong dịp tết cổ truyền dân tộc hàng năm. Qua đó đã tạo sự lan tỏa, tác động mạnh mẽ đến nhận thức, trách nhiệm đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị và nhân dân trên địa bàn tỉnh 

Những thành tựu cơ bản đạt được sau 30 năm thực hiện Ngày Hội quốc phòng toàn dân đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững chắc. Thực lực, tiềm lực của tỉnh về xây dựng nền quốc phòng toàn dân từng bước được xây dựng vững mạnh, thế trận QPTD gắn với thế trận an ninh nhân dân một cách chặt chẽ, khu vực phòng thủ tỉnh được quan tâm đầu tư xây dựng, kinh tế - xã hội luôn giữ vững tốc độ phát triển, hệ thống chính trị, khối đại đoàn kết toàn dân luôn được củng cố, kiện toàn xây dựng vững chắc. 

II. QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM – 75 NĂM XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN, CHIẾN ĐẤU VÀ CHIẾN THẮNG

Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội kiểu mới, quân đội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, là lực lượng nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, giáo dục và rèn luyện. Trải qua 75 năm xây dựng, phát triển, chiến đấu và chiến thắng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự đùm bọc và nuôi dưỡng của nhân dân, sự đoàn kết, giúp đỡ của bạn bè quốc tế, kế thừa và phát huy truyền thống quân sự của dân tộc, vừa chiến đấu, vừa xây dựng, Quân đội nhân dân Việt Nam ngày càng phát triển và trưởng thành.

1. Quân đội nhân dân Việt Nam ra đời và cùng toàn dân tộc tiến hành cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công.

Trong Chính cương vắn tắt (tháng 2/1930), Luận cương chính trị (tháng 10/1930), Đảng ta đã khẳng định con đường giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc phải tổ chức ra quân đội công nông để giành chính quyền và giữ chính quyền. Vì vậy, ngay sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, các tổ chức vũ trang lần lượt được hình thành là Đội tự vệ đỏ (xích đỏ) trong phong trào cách mạng 1930 – 1931, mà đỉnh cao là Xô Viết – Nghệ Tĩnh. Những năm 1940 – 1945, hàng loạt tổ chức vũ trang được thành lập như: Đội Du kích Bắc Sơn (Lạng Sơn), du kích Nam Kỳ, đội du kích Ba Tơ (Trung Kỳ), đội du kích Pắc Bó (Cao Bằng), Cứu quốc quân. Sự phát triển mạnh mẽ, rộng khắp và trưởng thành của phong trào đấu tranh cách mạng đòi hỏi cách mạng Việt Nam lúc này phải có một đội quân chủ lực thống nhất về mặt tổ chức để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng giải phóng dân tộc.

Đứng trước những yêu cầu thực tiễn của cách mạng, tháng 12/1944, Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã ra Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, Chỉ thị nhấn mạnh: “tên Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân nghĩa là chính trị quan trọng hơn quân sự, nó là Đội tuyên truyền…, đồng thời nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc”. Sau một thời gian chuẩn bị, ngày 22/12/1944, tại khu rừng giữa tổng Hoàng Hoa Thám và Trần Hưng Đạo thuộc châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng (nay là xóm Nà Sang, xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng), Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập gồm 34 chiến sĩ, biên chế thành 3 tiểu đội, được lựa chọn từ những chiến sĩ Cao-Bắc-Lạng, do đồng chí Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ huy. Đồng chí Hoàng Sâm được cử làm Đội trưởng. Đồng chí Xích Thắng (Dương Mạc Thạch) làm Chính trị viên. Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân có chi bộ Đảng lãnh đạo.

Thực hiện chỉ thị của Lãnh tụ Hồ Chí Minh: “Trong một tháng phải có hoạt động. Trận đầu nhất định phải thắng lợi”, 17 giờ ngày 25/12/1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã mưu trí, táo bạo, bất ngờ đột nhập vào đồn Phai Khắt (đóng tại tổng Kim Mã, châu Nguyên Bình, nay thuộc xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng); 7 giờ sáng ngày 26/12/1944 lại đột nhập đồn Nà Ngần (đóng tại xã Cẩm Lý, châu Nguyên Bình, nay thuộc xã Hoa Thám, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng), giết chết 2 tên đồn trưởng, bắt sống toàn bộ binh lính địch và thu tất cả vũ khí, quân trang, quân dụng. Chiến thắng Phai Khắt, Nà Ngần đã mở đầu cho truyền thống đánh chắc thắng, đánh thắng trận đầu của quân đội ta.

Tháng 3/1945, Thường vụ Trung ương Đảng họp mở rộng và ra Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Tháng 4/1945, Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị Quân sự cách mạng Bắc Kỳ, quyết định thống nhất các lực lượng vũ trang cả nước (Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, Cứu Quốc quân và các tổ chức vũ trang khác …) thành Việt Nam Giải phóng quân; đẩy mạnh tuyên truyền xung phong có vũ trang phá kho thóc của Nhật để cứu đói cho nhân dân; xây dựng các đội tự vệ vũ trang, du kích cứu quốc; phát động chiến tranh du kích, giải phóng từng vùng, mở rộng căn cứ địa cách mạng. Từ tháng 4/1945, cao trào kháng Nhật, cứu nước, phong trào vũ trang khởi nghĩa, khởi nghĩa từng phần đã giành thắng lợi ở nhiều nơi. Ngày 15/5/1945, sau buổi lễ thống nhất tại Định Biên Thượng, Định Hóa, Thái Nguyên, đồng chí Võ Nguyên Giáp trở thành Tư lệnh các lực lượng vũ trang thống nhất, mang tên Việt Nam Giải phóng quân.

Trên cơ sở đánh giá thời cơ và tình hình cách mạng trong nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, lực lượng vũ trang cùng các tầng lớp nhân dân đồng loạt đứng dậy tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền. Chỉ trong vòng 15 ngày cuối tháng 8/1945, cuộc Tổng khởi nghĩa của nhân dân ta đã giành thắng lợi hoàn toàn.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Việt Nam Giải phóng quân được đổi tên thành Vệ Quốc quân. Năm 1946, Vệ Quốc quân đổi tên Quân đội Quốc gia Việt Nam. Năm 1950, đổi tên thành Quân đội nhân dân Việt Nam.

Ngày 22 tháng 12 năm 1944, ngày thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân – Đội quân chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam được lấy làm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam. Tên gọi “Quân đội nhân dân Việt Nam” là do Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt, với ý nghĩa “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân phục vụ. 

2. Quân đội nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 – 1954)

2.1. Tham gia xây dựng, bảo vệ chính quyền nhân dân trong những năm đầu cách mạng và tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 – 1946)

Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đứng trước một tình thế rất phức tạp và chồng chất khó khăn. Cùng một lúc chúng ta phải đối phó với cả “giặc đói”, “giặc dốt”, “giặc ngoại xâm”. Ở Nam Bộ, ngày 23/9/1945, thực dân Pháp được quân Anh và quân Nhật giúp sức đã trắng trợn gây hấn ở Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai. Tại Bắc Bộ và Trung Bộ, từ cuối tháng 8 đến đầu tháng 10/1945, gần 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch đã chiếm đóng hầu hết các thành phố từ vĩ tuyến 16 trở ra.

Vừa xây dựng, vừa chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu, Vệ Quốc quân và lực lượng tự vệ đã anh dũng trong đấu tranh vũ trang, vững vàng trong đấu tranh chính trị, thực hiện tốt nhiệm vụ chống giặc ngoài, thù trong, góp phần bảo vệ vững chắc chính quyền nhân dân trong những năm đầu của chính quyền cách mạng.

2.2. Tham gia toàn quốc kháng chiến, cùng toàn dân đánh bại chiến lược “Đánh nhanh thắng nhanh” của thực dân Pháp xâm lược (1946 – 1947)

Tháng 11/1946, thực dân Pháp tăng thêm quân, đổ bộ lên Đà Nẵng, Đồ Sơn, Cát Bà. Để thực hiện chiến lược “Đánh nhanh thắng nhanh”, sau khi nổ sung ở Hải Phòng và Lạng Sơn (20/11/1946), chúng ráo riết chuẩn bị lực lượng hòng đánh úp các cơ quan đầu não của ta tại Thủ đô Hà Nội, tiêu diệt bộ đội Vệ Quốc quân và Tự vệ tại các thành phố lớn, đồng thời đánh chiếm những địa bàn chiến lược ở Trung Bộ và Bắc Bộ.

Ngày 19/12/1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Với tinh thần “Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh”, cuộc chiến đấu ở Thủ đô Hà Nội và các thành phố, thị xã tiêu hao, tiêu diệt và giam chân một lực lượng lớn quân địch, tạo điều kiện cho cả nước chuyển vào kháng chiến lâu dài.

Ngày 07/10/1947, thực dân Pháp huy động hơn 2 vạn quân tinh nhuệ có máy bay, tàu chiến hỗ trợ, mở cuộc tiến công lớn lên Việt Bắc, hòng tiêu diệt cơ quan lãnh đạo kháng chiến và bộ đội chủ lực của ta bằng chiến lược “Đánh nhanh thắng nhanh”. Thế nhưng sau hơn 2 tháng chiến đấu (7/10 đến 20/12/1947), quân ta đã liên tiếp phản công tiêu diệt hàng nghìn tên địch, bắn rơi 18 máy bay, bắn chìm, bắn cháy 50 tàu, ca nô, phá hủy 255 xe cơ giới, thu haàg nghìn súng các loại, làm nên thắng lợi của chiến dịch Việt Bắc, phá sản chiến lược “Đánh nhanh thắng nhanh” của thực dân Pháp; bảo toàn và phát triển bộ đội chủ lực, bảo vệ cơ quan đầu não và căn cứ của cả nước, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp phát triển sang thời kỳ mới.

2.3. Cùng toàn dân đánh bại âm mưu “bình định” và “phản công” của địch (1948 – 1952)

Sau chiến dịch Việt Bắc, để đánh bại âm mưu “bình định” của địch, ta chủ trương phát động chiến tranh du kích rộng khắp và thực hiện “đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung”, vừa đẩy mạnh chiến tranh du kích, vừa học tập tác chiến, tập trung củng cố xây dựng lực lượng và từng bước tiến lên đánh những trận phục kích, tập kích lớn hơn, tạo tiền đề của chiến tranh chính quy sau này. Qua hơn 2 năm chiến đấu (1948 – 1950), quân đội ta đã tiến bộ nhiều về phương diện tác chiến và xây dựng lực lượng. Cuối năm 1949 đầu năm 1950, trước tình hình thế giới có nhiều chuyển biến tích cực, có lợi cho cuộc kháng chiến của quân và dân ta, Đảng ta đã đề ra nhiệm vụ tích cực chuẩn bị lực lượng để chuyển sang tổng phản công.

Tháng 6/1950, ta mở chiến dịch Biên Giới, tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng một phần biên giới Việt – Trung, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc, khai thông đường liên lạc với các nước xã hội chủ nghĩa.

Vừa chiến đấu, vừa xây dựng lực lượng, quân đội ta không ngừng phát triển ngày càng lớn mạnh, nhiều đại đoàn chủ lực được thành lập, góp phần tang thêm sức chiến đấu của “các quả đấm chủ lực cách mạng” như: Đại đoàn 308, Đại đoàn 304, 312, 320, 316, đại đoàn công pháo và Đại đoàn 325. Trong đó, Đại đoàn 308 là Đại đoàn đầu tiên của Quân đội ta, được thành lập năm 1949. Đến năm 1955 các Đại đoàn được đổi thành các Sư đoàn. 

Đầu tháng 11/1951, Tổng Quân ủy mở chiến dịch Hòa Bình, làm phá vỡ phần lớn kết quả “bình định” đồng bằng Bắc Bộ trong cả năm 1951 của địch.

Tại Trung Bộ và Nam Bộ, sau một thời gian củng cố, bộ đội ta đã đứng vững trên các địa bàn, cùng du kích chống càn quét và tiến công các căn cứ địch; góp phần tiêu hao, tiêu diệt, kiềm chế một bộ phận quan trọng lực lượng quân sự của địch, bổi dưỡng và phát triển lực lượng ta, mở rộng nhiều vùng căn cứ, đánh bại âm mưu “bình định” của địch.

Đầu tháng 9/1952, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch tây Bắc, nối thông được vùng giải phóng tây bắc với căn cứ địa Việt Bắc và Thượng Lào. Ta giữ vững thế chủ động tiến công, làm thất bại âm mưu mở rộng chiếm đóng của địch.

2.4. Cùng toàn dân giành thắng lợi trong cuộc tiến công chiến lược Đông – Xuân 1953 – 1954, đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ.

Trước những thay đổi trong cục diện chiến tranh ở Đông Dương và trên cơ sở đánh giá đúng tương quan so sánh lực lượng giữa ta và địch, tháng 9/1953, ta mở cuộc tiến công chiến lược Đông – Xuân 1953 – 1954. Với 5 đòn tiến công chiến lược, quân và dân ta đã tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng nhiều vùng đất đai rộng lớn, nắm quyền chủ động trên các chiến trường Đông Dương và làm phá sản âm mưu tập trung lực lượng cơ động của Na-va, buộc chúng phải căng ra đối phó ở khắp nơi. Kế hoạch Na-va bắt đầu phá sản.

Ngày 06/12/1953, Bộ Chính trị thông qua phương án và quyết định tiến hành chiến dịch Điện Biên Phủ. Sau 56 ngày đêm (13/3 đến 7/5/1954) chiến đấu dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, quân và dân ta đã đập tan toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, giáng đòn quyết định, tạo bước ngoặc lịch sử làm thay đổi hẳn cục diện chiến tranh giữa ta và địch; trực tiếp đưa đến việc ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ về “đình chỉ chiến sự ở Việt Nam”, lập lại hòa bình ở Đông Dương, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chín năm chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, bảo vệ và phát triển thành quả Cách mạng Tháng tám. Miền Bắc được giải phóng, tạo cơ sở và điều kiện vững chắc để quân và dân ta tiến lên giành thắng lợi vĩ đại trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

3. Quân đội nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975)

3.1. Quân đội nhân dân Việt Nam tiến lên chính quy, hiện đại; xây dựng, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa; giữ gìn, phát triển lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam (1954 – 1960)

Để đáp ứng nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới mà Trung ương Đảng xác định đó là “trụ cột bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hòa bình”, quân đội ta nhanh chóng bước vào xây dựng theo kế hoạch quân sự 5 năm lần thứ nhất (1955 – 1960). Nhiệm vụ và phương châm lúc này là: Tích cực xây dựng quân đội nhân dân hùng mạnh, tiến dần từng bước lên chính quy, hiện đại. Đến năm 1960, quân đội ta đã hoàn thành các nhiệm vụ theo kế hoạch quân sự 5 năm lần thứ nhất; có bước trưởng thành mới, từ lực lượng chủ yếu là bộ binh với tổ chức chưa thật thống nhất, vũ khí trang bị còn thiếu thốn đã trở thành quân đội chính quy, ngày càng hiện đại, gồm các quân chủng: Lục quân, Hải quân, Phòng không – Không quân. Đồng thời, với việc xây dựng lực lượng, sắp xếp lại tổ chức, biên chế, tang cường sức mạnh chiến đấu, quân đội ta đã tích cực tham gia công tác tiếp quản các thành phố, thị xã và các vùng do quân Pháp chiếm đóng ở miền Bắc; bảo vệ thành quả xây dựng chủ nghĩa hội ở miền Bắc, tích cực tham gia lao động sản xuất, góp phần khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh.

Ở miền Nam, tháng 6/1954, Mỹ dựng chính phủ Ngô Đình Diệm và ráo riết thực hiện chính sách khủng bố tàn bạo, gây ra những tổn thất nặng nề cho cách mạng miền Nam. Trước tình hình đó, tháng 01/1959, Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) mở rộng đã xác định hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam và vạch rõ con đường cơ bản của cách mạng miền Nam là sử dụng bạo lực cách mạng.

Ngày 28/8/1959, nhân dân nhiều xã trong huyện Trà Bồng (Quảng Ngãi) nổi dậy giành chính quyền. Ngày 17/01/1960, nhân dân các huyện Mỏ Cày, Minh Tân, Thạnh Phú tỉnh Bến Tre nhất loạt nổi dậy, phá thế kìm kẹp, tạo nên phong trào “Đồng khởi” lan rộng ra nhiều tỉnh ở Nam Bộ, Khu 5. Từ phong trào “Đồng khởi”, lực lượng vũ trang và hệ thống chỉ huy quân sự các cấp của ta từng bước hình thành. Ngày 20/12/1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời. Ngày 15/02/1961, Quân ủy Trung ương quyết định thành lập Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, bộ phận trực tiếp của Quân đội nhân dân Việt Nam thực hiện nhiệm vụ chiến đấu ở miền Nam.

3.2. Đẩy mạnh xây dựng quân đội chính quy, hiện đại, cùng toàn dân đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ (1961 – 1965)

Trên hậu phương lớn miền Bắc, quân đội ta khẩn trương xây dựng theo kế hoạch quân sự 5 năm lần thứ hai (1961 – 1965), nâng cao một bước quan trọng trình độ chính quy, hiện đại. Nhiệm vụ và phương châm là: xây dựng quân đội tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chính quy, hiện đại. Với phương hướng xây dựng đúng đắn, quyết tâm cao, tổ chức thực hiện tốt, quân đội ta đã nâng cao một bước rõ rệt sức mạnh chiến đấu. Đồng thời, đã tạo ra những cơ sở thuận lợi cho việc mở rộng lực lượng, hoàn thành những nhiệm vụ xây dựng và chiến đấu ngày càng lớn, khẩn trương và phức tạp trong những năm tiếp theo.

Từ năm 1961, để đối phó với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới và phong trào cách mạng miền Nam, đế quốc Mỹ thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”. Chúng sử dụng quân đội Sài Gòn làm lực lượng chủ yếu; cung cấp vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự, tài chính và chỉ huy bằng hệ thống cố vấn quân sự và dân sự từ trung ương đến các tỉnh, đặc khu, các sư đoàn và tiểu đoàn; đồng thời, thực hiện ba biện pháp chiến lược cơ bản: tìm diệt bộ đội chủ lực và cơ sở cách mạng, bình định để nắm dân, phá hoại miền Bắc bằng biệt kích và phong tỏa biên giới, vùng biển để ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc. Với kinh nghiệm đấu tranh, quân và dân miền Nam đã sáng tạo nhiều hình thức tiến công, đánh 15.525 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 28.966 tên, vùng giải phóng được giữ vững và mở rộng, chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ đứng trước nguy cơ bị phá sản.

Nhằm hạn chế những tổn thất và cứu nguy cho thất bại ở chiến trường miền Nam, sau khi dự lên sự kiện “Vịnh Bắc Bộ” (8/1964), ngày 05/8/1964, đế quốc Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân lần thứ nhất hòng ngăn chặn sự chi viện của hậu phương miền Bắc cho tiền tuyến miền Nam. Chúng đánh ồ ạt các khu vực sông Gianh (Quảng Bình), Cửa Hội (thành phố Vinh), Lạch Trường (Thanh Hóa), Bãi cháy (Quảng Ninh). Các đơn vị hải quân, phòng không, dân quân tự vệ đã nâng cao cảnh giác, hiệp đồng chặt chẽ, mưu trí dũng cảm, chiến đấu ngoan cường, bắn rơi 8 máy bay, bắn bị thương nhiều chiếc khác, bắt sống nhiều giặc lái Mỹ. Ngày 05/8 trở thành Ngày truyền thống đánh thắng trận đầu của Bộ đội Hải quân nhân dân Việt Nam.

Tháng 10/1964, các lực lượng vũ trang miền Nam mở đợt hoạt động Đông – Xuân 1964 – 1965, tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân chủ lực ngụy, mở rộng vùng giải phóng. Sau chiến thắng Bình Giã (02/12/1964 đến 03/01/1965), Ba Gia (5/1965), Đồng Xoài (10/5 đến 22/7/1965), chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ hoàn toàn bị phá sản, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta bước sang một giai đoạn mới.

3.3. Cùng toàn dân đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” và chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất của đế quốc Mỹ (1965 – 1968)

Trước nguy cơ thất bại hoàn toàn của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, từ giữa năm 1965, đế quốc Mỹ chuyển sang chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, đưa lực lượng chiến đấu của Mỹ vào trực tiếp tham chiến trên chiến trường miền Nam. Hỗ trợ cho nỗ lực quân sự ở miền Nam, Mỹ dùng không quân, hải quân mở rộng cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc.

Vừa xây dựng, vừa chiến đấu và phát triển lực lượng, bộ đội ta trên các chiến trường miền Nam đã tổ chức các trận tiến công, bẻ gãy nhiều cuộc hành quân quy mô lớn của Mỹ - quân đội Sài Gòn, mở ra phong trào “tìm Mỹ mà diệt”, “nắm thắt lưng Mỹ mà đánh”, đánh bại kế hoạch hai gọng kìm “tìm diệt” và “bình định” của địch, tạo điều kiện đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước phát triển lên một bước mới, làm thất bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ.

Ở miền Bắc, quân và dân ta đã anh dũng chiến đấu, đánh trả không quân, hải quân địch, giành những thắng lợi lớn. Trong 4 năm (1964 – 1968), quân và dân miền Bắc đã bắn rơi 3.243 máy bay các loại, bắn chìm và bắn cháy 143 tàu chiến.

Giữa lúc cuộc chiến tranh leo thang của đế quốc Mỹ đến đỉnh cao nhất, Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 nhằm tạo bước ngoặc lớn, chuyển chiến tranh cách mạng miền Nam sang thời kỳ mới – thời kỳ giành thắng lợi quyết định. Chỉ trong một thời gian ngắn, quân và dân ta đã giành chiến thắng. Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 trên toàn chiến trường miền Nam, cùng với việc đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc đã giáng đòn quyết định vào ý chí xâm lược của giới cầm quyền Mỹ, làm phá sản chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, buộc Mỹ chấp nhận đàm phán với ta tại Hội nghị Pa-ri.

3.4. Cùng toàn dân đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và cuộc tập kích bằng không quân, hải quân lần thứ hai vào miền miền Bắc của đế quốc Mỹ (1969 – 1972)

Thất bại trên chiến trường miền Nam, từ năm 1969, Mỹ chuyển sang thi hành “Học thuyết Ních xơn” và chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, đồng thời tăng cường chiến lược “Chiến tranh đặc biệt tăng cường” ở Lào và Campuchia. Quân và dân ta đã phối hợp chặt chẽ với nhân dân Lào và Campuchia chiến đấu, giành được những thắng lợi to lớn trên chiến trường 3 nước Đông Dương trong Xuân – Hè 1971, tạo ra sự thay đổi quan trọng trong cục diện chiến tranh. Chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ bị thất bại một bước nghiêm trọng. Đầu năm 1972, quân và dân ta mở cuộc tiến công chiến lược trên toàn miền Nam, làm thay đổi so sánh lực lượng và thay đổi cục diện chiến tranh, dồn Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn vào thế yếu trầm trọng hơn.

Trước nguy cơ đổ vỡ của quân đội Sài Gòn – xương sống của Chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”’ Ních xơn buộc phải huy động trở lại lực lượng quân sự Mỹ vào cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Ngày 06/4/1972, đế quốc Mỹ huy động một lực lượng lớn không quân và hải quân mở cuộc chiến tranh đánh phá miền Bắc lần thứ hai, với hai chiến dịch Lai-nơ-Bếch-cơ (06/4/1972) và Lai-nơ-Bếch-cơ 2 (đêm 18/12/1972).

Với tinh thần dũng cảm, bằng cách đánh mưu trí, linh hoạt, quân và dân miền Bắc đã đánh thắng cuộc tập kích chiến lược lần thứ hai bằng B52 của Mỹ, lập nên trận “Điện Biên Phủ trên không” tại bầu trời Hà Nội. 

Thắng lợi to lớn của quân và dân hai miền Bắc và Nam, buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Pari về “chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” (27/01/1973), cam kết tôn trọng độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, chấm dứt dính líu về quân sự, rút hết quân Mỹ và quân chư hầu ra khỏi miền Nam.

3.5. Cùng toàn dân tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1973 – 1975)

Hiệp định Pari được ký kết, nhưng với bản chất ngoan cố, đế quốc Mỹ chưa chịu từ bỏ âm mưu duy trì chế độ thực dân mới, chia cắt lâu dài đất nước ta. Trong quá trình rút quân, đế quốc Mỹ để lại nhiều sĩ quan mặc áo dân sự và giao lại cho quân đội Sài Gòn toàn bộ cơ sở vật chất, vũ khí, phương tiện chiến tranh. Dựa vào viện trợ của Mỹ, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu ra sức củng cố ngụy quân, ngụy quyền, liên tiếp mở các cuộc hành quân “tràn ngập lãnh thổ”, lấn chiếm vùng giải phóng của ta.

Nắm được âm mưu của địch, Hội nghị Bộ Chính trị tháng 10/1974 và đầu năm 1975 đã kịp thời đánh giá đúng so sánh lực lượng giữa ta và địch trong tình hình mới, chỉ rõ sự xuất hiện thời cơ lịch sử và nêu quyết tâm chiến lược, giải phóng miền Nam, đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh thực dân mới của Mỹ bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975.

Ngày 04/3/1975, bộ đội ta mở chiến dịch Tây Nguyên – mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975. Ngày 10 và 11/3/1975, quân ta tiến công, giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột. Tiếp đó, từ ngày 14/3 đến ngày 03/4/1975, quân ta tiến công, giải phóng hoàn toàn tỉnh Kon Tum, Gia Lai và toàn bộ Tây Nguyên. Ngày 05/3/1975, quân ta mở chiến dịch Trị Thiên – Huế, giải phóng tỉnh Quảng trị (19/3); từ ngày 21 đến 26/3/1975, quân ta tiến công giải phóng thành phố Huế và tỉnh Thừa Thiên, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân địch trên chiến trường Trị Thiên.

Từ ngày 26 đến 29/3/1975, quân ta mở chiến dịch giải phóng Đà Nẵng, bán đảo Sơn Trà và thị xã Hội An (29/3), làm thay đổi hẳn cục diện và so sánh thế trận lực lượng ngày càng có lợi cho ta. Ngày 01/4/1975, giải phóng Bình Định, Phú Yên. Ngày 03/4/1975, giải phóng Khánh Hòa nối liền vùng giải phóng từ Tây Nguyên, Trị Thiên và các tỉnh Trung Bộ.

Trên cơ sở những thắng lợi quyết định, ngày 14/4/1975, Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Hồ Chí Minh nhằm giải phóng Sài Gòn và toàn bộ miền Nam. Thực hiện tư tưởng chỉ đạo: “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”, ngày 26/4/1975, quân ta bắt đầu nổ súng tiến công đồng loạt vào các mục tiêu, phá vỡ tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch. Ngày 29/4/1975, quân ta tiến công tiêu diệt và làm tan rã các sư đoàn chủ lực số 5, 7, 25, 18 và 22 của quân đội Sài Gòn. Các binh đoàn thọc sâu tiến vào cách trung tâm thành phố Sài Gòn từ 10 đến 20 km. Đại sứ Mỹ và các nhân viên quân sự, binh lính cuối cùng của Mỹ lên máy bay trực thăng rút khỏi Sài Gòn (sáng ngày 30/4). 5 giờ sáng ngày 30/4/1975, quân ta mở đợt tiến công cuối cùng. Vào lúc 10 giờ 45 phút, phân đội xe tăng thọc sâu của Quân đoàn 2 tiến vào dinh Độc Lập. Quân ta bắt toàn bộ nội các của chính quyền Sài Gòn, buộc Tổng thống Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Cờ Tổ quốc tung bay trước tòa nhà chính của dinh Độc Lập lúc 11 giờ 30 phút. Trong 2 ngày 30/4 và 01/5, bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, các quân khu 8 và 9 nắm thời cơ, phát động quần chúng nổi dậy, tiêu diệt và làm tan rã hàng ngũ địch, giải phóng hoàn toàn các tỉnh đồng bằng Nam Bộ, vùng biển và các đảo ở Tây Nam của Tổ quốc. Hơn một triệu tên lính quân đội Sài Gòn và cả bộ máy chính quyền địch bị đập tan, chế độ thực dân mới được Mỹ dốc sức xây dựng trong hơn 20 năm với 5 đời Tổng thống đã hoàn toàn sụp đổ. Chiến dịch Hồ Chí Minh đã toàn thắng, miền Nam hoàn toàn giải phóng. Chiến dịch Hồ Chí Minh là chiến dịch hiệp đồng quân, binh chủng quy mô lớn nhất, giành thắng lợi to lớn nhất, đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của Quân đội nhân dân Việt Nam cả về tổ chức lực lượng và trình độ chỉ huy tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng; là đỉnh cao của nghệ thuật quân sự Việt Nam, góp phần quyết định kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

4. Quân đội nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (1975 – 2019)

4.1. Khắc phục hậu quả chiến tranh, ổn định đời sống nhân dân, đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên trong giai đoạn mới.

Trong giai đoạn cách mạng mới của đất nước, nhiệm vụ của quân đội được Trung ương Đảng nêu rõ: “Ra sức bảo vệ sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta, … bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển, biên giới và hải đảo của nước Việt Nam thống nhất”. Đồng thời “tích cực tham gia sản xuất, góp phần xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội”. Để thực hiện nhiệm vụ của Đảng trong giai đoạn cách mạng mới, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng đề ra phương hướng, nhiệm vụ xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng trong 5 năm (1976 – 1981).

Thực hiện phương hướng, nhiệm vụ do Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng đề ra, trong những năm 1975 – 1977, quân đội ta thực hiện điều chỉnh một bước về quân số, tổ chức biên chế; vừa đẩy mạnh huấn luyện, xây dựng chính quy phù hợp với tình hình mới, vừa tham gia xây dựng đất nước. Các đơn vị quân đội đứng chân trên các vùng mới được giải phóng đã phối hợp với Ủy ban quân quản các cấp, khẩn trương xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng cơ sở, xây dựng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang địa phương; tổ chức cải tạo binh lính cảnh sát của bộ máy chính quyền cũ, trấn áp các phần tử và tổ chức phản động; truy quét tàn quân địch và FULRO; tích cực tham gia cải tạo tư sản công thương nghiệp, địa chủ, bài trừ các tệ nạn xã hội; thu hồi quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật quân sự của địch, xử lý chất độc hóa học, rà phá bom mìn, góp phần ổn định đời sống nhân dân. Trong xây dựng kinh tế, toàn quân đã bố trí 256.000 cán bộ, chiến sĩ chuyển sang làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế lâu dài. Nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, cán bộ, chiến sĩ trong quân đội đã khắc phục khó khăn, gian khổ, tham gia xây dựng tuyến đường sắt Bắc – Nam; khai hoang xây dựng các vùng kinh tế nông nghiệp, lâm nghiệp, phát triển các nông trường, lâm trường quốc doanh trên các vùng Tây Bắc, Đông Bắc, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ …; xây dựng các công trình thủy lợi; khai thác và chế biến hải sản, xây dựng cơ bản, sản xuất vật liệu xây dựng và các mặt hàng dân dụng.

4.2. Cùng toàn dân đánh thắng hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam va biên giới phía Bắc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia

Tháng 4/1977, tập đoàn Pôn Pốt – Iêngxari phát động động cuộc chiến tranh xâm lược vùng biên giới Tây Nam. Mùa khô năm 1978, chúng đã huy động 19 trong tổng số 20 sư đoàn bộ binh mở cuộc tiến công trên toàn tuyến biên giới, gây ra nhiều cuộc thảm sát man rợ. Dước sự lãnh đạo của Đảng, ngày 23/12/1978, quân và dân ta trên toàn tuyến biên giới Tây Nam đã tiến hành mở cuộc phản công chiến lược và đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của tập đoàn phản động Pô Pốt – Iêngxari, đuổi chúng về bên kia biên giới.

Với sự giúp đỡ to lớn của Quân tình nguyện Việt Nam, ngày 07/01/1979, các lực lượng vũ trang cách mạng và quân dân Campuchia đã đánh đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt – Iêngxari, hồi sinh, tái thiết đất nước. 

Ở biên giới phía Bắc, ngày 17/02/1979, Trung Quốc đã huy động 60 vạn quân tiến công trên toàn tuyến biên giới 6 tỉnh phía Bắc nước ta. Các lực lượng vũ trang địa phương, dân quân tự vệ đã phối hợp với một bộ phận bộ đội chủ lực cùng đồng bào các dân tộc  vùng biên giới anh dũng chiến đấu, bảo vệ vững chắc từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc, buộc Trung Quốc phải rút hết quân vào ngày 16/3/1979.

4.3. Quân đội ta đẩy mạnh huấn luyện, xây dựng nền nếp chính quy, tham gia phát triển kinh tế - xã hội

Trong những năm 1980 – 1986, quân đội ta đã đẩy mạnh công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng nền nếp chính quy. Công tác huấn luyện được tiến hành cơ bản, toàn diện. Hoạt động công tác đảng, công tác chính trị từng bước được đổi mới cả về nội dung, hình thức, phương pháp tiến hành. Thực hiện Chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng, từ năm 1979, quân đội ta đã triển khai thực hiện cuộc vận động “Phát huy bản chất tốt đẹp, nâng cao sức mạnh chiến đấu”. Cuộc vận động đã góp phần tạo nên chất lượng mới, sức chiến đấu mới của các lực lượng vũ trang nhân dân.

Trên mặt trận kinh tế, thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ V của Đảng về việc “tổ chức cho các đơn vị bộ đội có điều kiện tiến hành sản xuất để tự cung ứng một phần nhu cầu, huy động năng lực các xí nghiệp quốc phòng và sử dụng hợp lý lực lượng quân đội vào những hoạt động kinh tế thích hợp”, cùng với toàn dân, các đơn vị quân đội đã tích cực tham gia xây dựng kinh tế góp phần quan trọng hoàn thành nhiều công trình trọng điểm.

4.4. Quân đội nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Quân đội nhân dân Việt Nam đã có những đóng góp xứng đáng vào những thành tựu chung của đất nước trong hơn 30 năm đổi mới, nhất là từ năm 2005 đến nay. Đó là, quân đội đã nắm chắc và dự báo đúng tình hình liên quan đến quốc phòng – an ninh; chủ động tham mưu, đề xuất với Đảng và Nhà nước hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách; ra nghị quyết về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đã tham mưu với Đảng và Nhà nước đề ra đối sách phù hợp, xử lý linh hoạt, đúng đắn các tình huống phức tạp, các vấn đề nhạy cảm về quốc phòng – an ninh, trong quan hệ đối nội và đối ngoại, không để đất nước bị động, bất ngờ về chiến lược, đồng thời không để cho các thế lực thù địch lợi dụng, chống phá; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và quan hệ tốt với các nước láng giềng; bảo đảm sự ổn định chính trị - xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho phát kinh tế - xã hội nhanh, bền vững.

5. Truyền thống chiến đấu và chiến thắng vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam

Trải qua 75 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành, cùng với những chiến công mãi mãi ghi vào lịch sử dân tộc như những biểu tượng sáng ngời về một quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, phục vụ, quân đội ta đã xây đắp nên những truyền thống cao đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”. Đó lá: Trung thành vô hạn với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, với Đảng, Nhà nước và nhân dân; quyết chiến, quyết thắng, biết đánh và biết thắng; gắn bó máu thịt với nhân dân, quân với dân một ý chí; đoàn kết nội bộ, cán bộ, chiến sĩ bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, thương yêu giúp đỡ nhau, trên dưới đồng lòng thống nhất ý chí và hành động; kỷ luật tự giác, nghiêm minh; độc lập tự chủ, tự lực, tự cường, cần kiệm xây dựng quân đội, xây dựng đất nước, tôn trọng và bảo vệ của công; lối sống trong sạch, lành mạnh, có văn hóa, trung thực, khiêm tốn, giản dị, lạc quan; luôn luôn nêu cao tinh thần ham học, cầu tiến bộ, nhạy cảm, tinh tế trong cuộc sống; đoàn kết quốc tế trong sáng, thủy chung, chí nghĩa, chí tình.

III. ĐẨY MẠNH XÂY DỰNG NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN, XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM HÙNG MẠNH, BẢO VỆ VỮNG CHẮC TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG THỜI KỲ MỚI

Trong những năm tới, tình hình thế giới, khu vực sẽ còn nhiều diễn biến rất phức tạp, nhưng hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn. Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục được đẩy mạnh. Hợp tác, cạnh tranh, đấu tranh và sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước, nhất là giữa các nước lớn ngày càng tăng. Cuộc cách mạng khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy sự phát triển nhảy vọt trên nhiều lĩnh vực tạo ra thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia. 

Qua hơn 30 năm đổi mới, thế và lực, sức mạnh tổng hợp và uy tín của đất nước ngày càng được nâng cao, tạo ra những tiền đề quan trọng để thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn còn tồn tại, nhất là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới, nguy cơ “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch nhằm chống phá nước ta; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí diễn biến phức tạp…làm giảm lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng và Nhà nước. Bảo vệ chủ quyền biển, đảo đứng trước nhiều khó khăn, thách thức lớn. 

Tình hình thế giới, khu vực và trong nước có cả thuận lợi và cũng không ít khó khăn, thách thức đan xen; đặt ra yêu cầu mới đối với sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước và bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, đòi hỏi Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị phải nổ lực phấn đấu mạnh mẽ, quyết liệt hơn, đặc biệt là đối với việc đẩy mạnh xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hùng mạnh bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. 

1. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh

Đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh là nội dung quan trọng hàng đầu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây là quan điểm chỉ đạo nhất quán, xuyên suốt và được cụ thể trong các nghị quyết của Đảng, đặc biệt là trong Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Chiến lược quốc phòng Việt Nam, Chiến lược quân sự Việt Nam, Chiến lược an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Chiến lược biển Việt Nam, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng và Luật Quốc phòng năm 2018…Trong bối cảnh tình hình mới, xây dựng và phát triển nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, cần nhận thức đúng và tập trung thực hiện tốt những nội dung trọng tâm sau: 

1.1. Tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân. 

1.2. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và toàn dân về sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc. 

1.3. Tập trung xây dựng tiềm lực của nền quốc phòng toàn dân, tạo sức mạnh tổng hợp để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 

1.4. Thường xuyên chăm lo xây dựng LLVT nhân dân vững mạnh, làm nòng cốt xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh. 

1.5. Kết hợp chặt chẽ kinh tế, văn hóa, xã hội với quốc phòng, an ninh và quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội; kết hợp quốc phòng, an ninh và đối ngoại. 

1.6. Đẩy mạnh công tác đối ngoại quốc phòng và hội nhập quốc tế, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa. 

2. Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hùng mạnh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

ới vai trò là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân và bảo vệ Tổ quốc, Quân đội nhân dân Việt Nam càng phải nêu cao cảnh giác, xây dựng ý chí quyết tâm, cùng toàn Đảng, toàn dân bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao, xứng đáng là đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất trong thời kỳ mới, cần tập trung làm tốt một số nội dung trọng tâm sau: 

2.1. Thường xuyên giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng đối với quân đội; xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân. 

2.2. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. 

2.3 Tiếp tục điều chỉnh tổ chức, biên chế quân đội theo hướng “tinh, gọn, mạnh, linh hoạt”, có chất lượng tổng hợp, sức chiến đấu ngày càng cao. 

2.4. Toàn quân tiếp tục làm tốt công tác dân vận, góp phần xây dựng và củng cố “thế trận lòng dân” vững chắc. 

2.5. Đẩy mạnh hội nhập quốc tế, tăng cường đối ngoại quốc phòng, góp phần nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và quân đội. 

2.6. Xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. 

Phấn khởi và tự hào kỷ niệm 30 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân, 75 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, là dịp để chúng ta ôn lại lịch sử hào hùng của dân tộc; bản chất truyền thống tốt đẹp, những chiến công oanh liệt của quân đội và nhân dân ta. Qua đó khơi dậy niềm tự hào, tự tôn dân tộc, phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, nâng cao lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, ý chí quật cường, ý thức tự lực, tự cường vượt qua mọi khó khăn, thử thách; ra sức xây dựng nền Quốc phòng toàn dân vững mạnh, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân ngày càng vững chắc,  xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới./. 

BỘ CHQS TỈNH & BAN TUYÊN GIÁO TỈNH ỦY AN GIANG