Chào mừng bạn đến với Cổng thông tin điện tử Tỉnh An Giang
cổng thông tin điện tử tỉnh an giang

Tri Tôn chăm lo phát triển vùng đồng bào dân tộc

Ngày đăng: 18/07/2019

Xem với cở chữ : A- A A+
(Cổng TTĐT AG)- Tri Tôn là huyện miền núi, biên giới, dân tộc, nhiều tôn giáo, nằm ở phía tây tỉnh An Giang, huyện Tri Tôn có 15 đơn vị hành chính (13 xã, 02 thị trấn) với 79 khóm, ấp. Trên địa bàn huyện có 04 dân tộc chính: Kinh, Khmer, Hoa, Chăm; trong đó, đồng bào DTTS huyện chủ yếu là đồng bào dân tộc Khmer, sinh sống ở 10/15 xã, thị trấn.

Responsive image

Tặng quà gia đình liệt sĩ người Khmer

Bà Neáng Sâm Bô, Trưởng phòng Dân tộc huyện Tri Tôn cho biết “thực hiện các chương trình chính sách dân tộc của trung ương, tỉnh, trong 5 năm qua  huyện Tri Tôn đã giải quyết, hỗ trợ cho 180.764 lượt người với  tổng kinh phí thực hiện trên 179 tỷ đồng. Cụ thể cấp đất ở cho 639 hộ dân tộc, hỗ trợ 199 hộ vay vốn phát triển sản xuất và chuyển đổi nghề, 496 hộ được hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán, 14.441 hộ được hỗ trợ trực tiếp, 154.779 lượt thẻ BHYT, 1.295 lượt các chùa Nam tông Khmer, gia đình chính sách dân tộc thiểu số và người uy tín được đến thăm, tặng quà nhân dịp lễ, tết cổ truyền của đồng bào dân tộc, 2.687 lượt hộ nghèo được hỗ trợ bò chăn nuôi, được thăm hỏi tặng quà dịp tết cổ truyền dân tộc hoặc lúc khó khăn, thiên tai, 45 lượt chùa được hỗ trợ xây dựng lò hỏa táng và hỗ trợ nhạc cụ dân tộc”. 

Đến nay, mạng lưới trường lớp từ mầm non đến trung học phổ thông trên địa bàn huyện nói chung, vùng đồng bào các dân tộc nói riêng được củng cố và phát triển, đáp ứng được nhu cầu học tập của con em đồng bào các dân tộc trong độ tuổi đến trường. Các xã, thị trấn có đồng bào DTTS sinh sống hầu hết đều có trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở. Quy mô giáo dục đào tạo từng bước được mở rộng, chất lượng hiệu quả giáo dục đào tạo có chuyển biến tích cực, năng lực đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên có nâng lên, cơ sở vật chất trường lớp được đầu tư xây dựng theo hướng đạt chuẩn quốc gia. Hàng năm tỷ lệ trẻ em nhập học đúng độ tuổi cấp tiểu học DTTS đạt trên 98%; tỷ lệ trẻ em hoàn thành chương trình tiểu học DTTS đạt trên 99,75%; tỷ lệ người từ 15 tuổi đến 60 tuổi biết chữ DTTS đạt trên 91,13%; tỷ lệ mù chữ của phụ nữ DTTS dưới 25%; tỷ lệ học sinh nữ DTTS trong tổng số học sinh DTTS ở cấp tiểu học, trung học cơ sở đạt trên 45%. Ngoài ra trong các chùa Nam Tông Khmer có tổ chức đào tạo các lớp sơ cấp Pa-lây, tổ chức dạy chữ Khmer cho con em Khmer vào các dịp hè. 

Công tác đào tạo nghề ngày càng chất lượng, hiệu quả phải gắn liền với giải quyết việc làm, ổn định đời sống người lao động và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong giai đoạn 2015-2018, huyện đã giới thiệu, giải quyết việc làm cho 22.172 lượt lao động. Trong đó DTTS làm việc trong tỉnh là 434 lượt, làm việc ngoài tỉnh 12.419 lượt. Đưa 13 lao động tham gia làm việc ở các thị trường như: Hàn Quốc, Nhật Bản, Malaysia,.. , có 02 lao động là người DTTS.

Việc bảo tồn phát triển ngành nghề truyền thống cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số cũng được huyện và các xã thị trấn luôn được quan tâm đầu tư khôi phục, phát triển. Nghề làm cốm dẹp, ngành nghề sản xuất đường thốt nốt, sản xuất nồi đất và cà ràng của đồng bào dân tộc Khmer trên địa bàn huyện đang từng bước khôi phục và phát triển, đã góp phần giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động ở nông thôn trong vùng có đông đồng bào dân tộc Khmer. Hiện nay, trên địa bàn huyện có 12 hộ tham gia sản xuất cốm dẹp tại xã Ô Lâm, 15 hộ sản xuất nồi đất và cà ràng tại xã Châu Lăng, 246 hộ sản xuất đường thốt nốt, tập trung ở các xã: Núi Tô, An Tức, Châu Lăng, Lê Trì, Lương Phi, Ô Lâm và Cô Tô.

Trên địa bàn huyện cũng có 16 bộ nhạc ngũ âm tại 16 điểm chùa Nam Tông Khmer; Bộ kinh lá buông được lưu trữ tại các điểm chùa Nam Tông Khmer, đặc biệt, tại chùa Svay Tôn. 15 học viên biết sử dụng nhạc cụ đàn Chàpây; 02 đội Dù-kê; 08 đội Phlêng-ka với hơn 40 nghệ nhân; 01 đội Chhay-dăm với 11 nghệ nhân. Các cá nhân tiêu biểu có nhiều đóng góp trong việc lưu giữ, duy trì các bản sắc văn hóa có 03 cá nhân gồm nghệ nhân Kinh lá buông, đàn Chàpây và nghệ nhân trình diễn Dù kê .

Công tác xã hội hóa được sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp ủy, đảng, chính quyền, mặt trận tổ quốc huyện, các đoàn thể cùng với sự tham gia của các cộng đồng doanh nghiệp, các công ty, xí nghiệp, các tổ chức cá nhân,… đã tạo được sức lan tỏa, đồng thuận, hưởng ứng của các tầng lớp nhân dân. Trong giai đoạn 2014-2018, huyện đã huy động xã hội hóa gần 58 tỷ đồng chăm lo nhà ở, tặng quà, chỉnh trang bộ mặt nông thôn vùng dân tộc. Qua đó đã góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội. Hiện tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 12,45%, với 4.198 hộ. Tỷ lệ hộ nghèo DTTS  chiếm 22,82% so với số hộ DTTS.

Với sự quan tâm của cả hệ thống chính trị, các chủ trương, chính sách về giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện nói chung, trong vùng đồng bào DTTS nói riêng đã thực sự đi vào cuộc sống, mang lại hiệu quả thiết thực góp phần nâng cao đời sống của nhân dân. Tuy nhiên do đặc thù là huyện miền núi, vùng sâu vùng xa, sản xuất nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo, sự bất ổn định về giá cả thị trường, ảnh hưởng đến nền kinh tế - xã hội của huyện. Việc huy động các nguồn lực, kêu gọi các nhà đầu tư tại huyện còn nhiều hạn chế. Nhiều chương trình, chính sách tập trung đầu tư, hỗ trợ giảm nghèo cho đồng bào DTTS chỉ giải quyết những khó khăn trước mắt, không mang tính lâu dài, nguồn vốn hỗ trợ chưa đáp ứng nhu cầu thực tế.  Công tác giảm nghèo hàng năm tuy đạt chỉ tiêu đề ra, nhưng vẫn tồn tại, tiềm ẩn nguy cơ tái nghèo cao, thiếu bền vững.

“Thời gian tới huyện  sẽ tiếp tục thực hiện tốt các chương trình, chính sách dân tộc gắn với việc đẩy mạnh công tác giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc. Khôi phục và phát triển ngành nghề truyền thống có điều kiện phát triển ở địa phương, nâng cao chất lượng cuộc sống.Tôn vinh và bảo vệ các di tích văn hóa ở địa phương. Thực hiện tốt việc sưu tầm, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của từng dân tộc. Đồng thời thực hiện có hiệu quả các hoạt động văn hóa, thể thao, thông tin, tuyên truyền ở cơ sở. Quan tâm phát triển đảng viên, đoàn viên, hội viên là người DTTS”  Bà Neáng Sâm Bô, Trưởng phòng Dân tộc huyện Tri Tôn chia sẻ./.

Châu Phong