Chào mừng bạn đến với Cổng thông tin điện tử Tỉnh An Giang
cổng thông tin điện tử tỉnh an giang

.
Danh sách các phản ánh được phản hồi

-

Đặng Thị Hồng Hạnh

( 10/11/2017 )
Đơn vị tôi thực hiện dự án xây dựng trụ sở, trong đó chi phí Quản lý dự án được phân chia theo tỷ lệ: Chủ đầu tư sử dụng 50%; Tư vấn dự án sử dụng phần còn lại 50%.
Chủ đầu tư và Tư vấn Quản lý dự án thực hiện theo hình thức hợp đồng trọn gói. Chi phí Chủ đầu tư sử dụng hầu hết chi lương cho cán bộ được phân công nhiệm vụ (có thực hiện phân công Tổ giúp việc cho Chủ đầu tư) và người đứng làm đại diện chủ Đầu tư là Giám đốc.
Do Giám đốc là đại diện chủ tài khoản, Chủ đầu tư và người điều hành chung cho dự án nên tôi không đưa Giám đốc vào tổ giúp việc. Nhưng tất cả hợp đồng, pháp lý liên quan đến dự án đều do Giám đốc trực tiếp phê duyệt.
Tôi muốn hỏi, vậy Giám đốc có được hưởng phụ cấp kiêm nhiệm hay không?
Tôi xin cảm ơn!

Sở Tài chính trả lời như sau : ( 13/11/2017 )
Sở Tài chính có ý kiến như sau:

Căn cứ Thông tư số 72/2017/TT-BTC ngày 17/7/2017 (viết tắt Thông tư số 72/2017/TT-BTC) của Bộ Tài chính quy định về quản lý, sử dụng các khoản thu từ hoạt động quản lý dự án của các chủ đầu tư, ban quản lý dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước.

1. Theo bạn phản ánh: “Đơn vị bạn thực hiện xây dựng trụ sở, chi phí Quản lý dự án phân chia theo tỷ lệ: Chủ đầu tư sử dụng 50%; Tư vấn dự án sử dụng phần còn lại 50%”.

Trả lời: nội dung này quy định tại Điểm đ, Khoản 1, Điều 10 của Thông tư số 72/2017/TT-BTC:“Về phân chia chi phí quản lý dự án giữa chủ đầu tư và BQLDA một dự án do chủ đầu tư quyết định thành lập: Tỷ lệ phân chia kinh phí tương ứng với tỷ lệ phân công nhiệm vụ, trách nhiệm giữa chủ đầu tư và BQLDA do chủ đầu tư quyết định và được ghi trong quyết định thành lập BQLDA hoặc văn bản giao nhiệm vụ.

Trường hợp người quyết định đầu tư giao chủ đầu tư ký hợp đồng với BQLDA chuyên ngành, BQLDA khu vực để thực hiện quản lý dự án thì việc phân chia chi phí quản lý dự án căn cứ theo nội dung, khối lượng và tính chất công việc quản lý dự án mà chủ đầu tư và BQLDA thực hiện và được thể hiện trong hợp đồng giữa chủ đầu tư và BQLDA sau khi có ý kiến chấp thuận của người quyết định đầu tư”.

   2. Theo bạn phản ánh: “Chi phí chủ đầu tư sử dụng hầu hết là chi lương cho cán bộ được phân công nhiệm vụ (có thực hiện phân công tổ giúp việc cho chủ đầu tư) và nguời đứng đại diện chủ đầu tư là Giám đốc.  Do Giám đốc là chủ tài khoản, Chủ đầu tư là người điều hành chung cho dự án nên tôi không đưa Giám đốc vào tổ giúp việc. Nhưng tất cả hợp đồng pháp lý liên quan đến dự án đều do Giám đốc trực tiếp phê duyệt. Bạn hỏi vậy Giám đốc có được hưởng phụ cấp kiêm nhiệm hay không?.

  Trả lời: Nội dung dự toán chi của chủ đầu tư, BQLDA được ghi trong Mẫu số 04/DT-QLDA ban hành kèm theo Thông tư số 72/2017/TT-BTC; tại điều 11 đã quy định các nội dung chi tiết, trong đó: Chi tiền lương; chi tiền công trả cho lao động theo công việc cụ thể, theo thỏa thuận trong hợp đồng và phù hợp với quy định của pháp luật; các khoản phụ cấp lương; phụ cấp kiêm nhiệm quản lý dự án.

Ông Giám đốc theo phản ảnh của bạn tuy không phân công tổ giúp việc cho chủ đầu tư), nhưng là người được phân công nhiệm vụ người đứng đầu chủ đầu tư tất cả hợp đồng pháp lý liên quan đến dự án đều do Giám đốc trực tiếp phê duyệt. Thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của chủ đầu tư và trực tiếp tổ chức quản lý thực hiện các dự án được giao; chịu trách nhiệm trước pháp luật và người quyết định đầu tư về các hoạt động của mình; quản lý vận hành, khai thác sử dụng công trình hoàn thành khi được người quyết định đầu tư giao. Vì vậy giám đốc là người đứng đầu chịu trách nhiệm như trên và thực tế đã thực hiện công việc quản lý dự án được phụ cấp kiêm nhiệm quản lý dự án theo quy định đối với BQLDA nhóm I tại Thông tư số 72/2017/TT-BTC ngày 17/7/2017 của Bộ Tài chính. 

Sở Tài chính có ý kiến trả lời như trên./.  

 

-

Nguyễn Văn Sáu Nhỏ

( 27/10/2017 )
Tên hồ sơ: Nguyễn Văn Sáu Nhỏ. Sinh ngày: 10/12/1965. Hiện cư ngụ: Cần Thạnh, Cần Đăng, Châu Thành, An Giang. Điện Thoại: 0919 505 985. 
Cho hỏi thời gian giải quyết hồ sơ theo quyết định này là bao lâu? Ba tôi nộp đơn đã hơn 2 năm. Được biết Giám đốc Sở Lao động, Thương binh và Xã hội là bà Hoa Rây đã ký duyệt hồ sơ rồi nhưng ba tôi vẫn chưa được thông tin gì? Trong khi bạn ba tôi đi cùng chuyến đi đó ngụ huyện Tịnh Biên thì đã hhận được chính sách từ 2 năm trước. Nhờ UBND tỉnh trả lời giúp để Ba tôi yên tâm. Xin thành thật biết ơn./.

Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh An Giang trả lời như sau : ( 27/10/2017 )
Sau khi xem xét nội dung đơn và rà soát hồ sơ quản lý, Sở Lao động-Thương binh và Xã hội tỉnh An Giang có ý kiến phúc đáp như sau:
Hồ sơ của ông Nguyễn Văn Sáu Nhỏ đã được cơ quan chức năng thẩm định và Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang đã ban hành Quyết định số 65/QĐ-UBND ngày 06/01/2017 của UBND tỉnh An Giang về việc giải quyết chế độ trợ cấp một lần đối với 27 người được cử làm chuyên gia sang giúp Lào, Căm-pu-chi-a. Trong đó, trường hợp của ông Sáu Nhỏ có tổng thời gian công tác tại Lào, Căm-pu-chi-a là 03 năm với số tiền là 9.000.000 đồng (chín triệu đồng). Để kịp thời chi trả chế độ một lần cho 27 người đủ điều kiện theo Quyết định 65 của Ủy ban nhân dân tỉnh, ngày 09/01/2017 Sở Lao động-Thương binh và Xã hội An Giang có văn bản số 56/SLĐTBXH-NCC gửi đến Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đề nghị cấp kinh phí, tuy nhiên đến nay Sở Lao động-Thương binh và Xã hội An Giang chưa nhận được kinh phí từ trung ương. Khi nào tiếp nhận được nguồn kinh phí, Sở sẽ tiến hành chi trả cho các đối tượng được hưởng theo quy định, trong đó có trường hợp của ông Sáu Nhỏ (đính kèm các văn bản có liên quan).

-

Thi Thanh Hiền

( 16/10/2017 )

Cùng trên một địa bàn xã Vĩnh Xương, nhưng năm 2017 biên phòng được hưởng chế độ vùng biên giới đặc biệt khó khăn còn giáo dục thì bị cắt. Xin cho biết những công văn, nghị định có liên quan./.

Sở Nội vụ tỉnh An Giang trả lời như sau : ( 16/11/2017 )
Sở Nội vụ nhận được công văn số 783/CTTĐT ngày 17 tháng 10 năm 2017 của Cổng Thông tin điện tử tỉnh về chuyển phản ánh kiến nghị tư vấn chế độ chính sách của bà Thi Thanh Hiền. Sau khi xem xét Sở Nội vụ có ý kiến như sau:

Hiện nay chính sách viên chức ngành giáo dục công tác ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn được áp dụng theo quy định tại Nghị định số 116/2010 ND-CP ngày 24 tháng 12 năm 2010 và nghị định số 61/2006/ND-CP ngày 20 tháng 06 năm 2006 của Thủ tướng chính phủ. Về địa bàn áp dụng chính sách là các xã đặc biệt khó khăn (xã khu vực III) vùng đồng bào dân tộc và miền núi các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo theo quyết định của TTCP.

Ngày 28 tháng 04 năm 2017 Thủ tướng chính phủ đã ban hành quyết định số 582/QĐ-Ttg về phê duyệt danh sách thôn đặc biệt khó khăn, xã khu vực III, xã khu vực II, xã khu vực I thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2016 - 2020. Theo đó trên địa bàn thị xã Tân Châu không có xã nào thuộc diện xã đặc biệt khó khăn (xã khu vực III), chỉ phê duyệt 1 xã thuộc xã khu vực I là xã Châu Phong.

Như vậy, địa bàn xã Vĩnh Xương, thị xã Tân Châu không phải là xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn theo quyết định số 582/QĐ-Ttg, do đó viên chức giáo dục công tác trên  địa bàn  xã Vĩnh Xương không thuộc đối tượng điều chỉnh của Nghị định số 116/2010 ND-CP, nghị định số 61/2006/ND-CP ngày 20 tháng 06 năm 2006

-

Lê Minh Tân

( 20/09/2017 )

Vợ tôi tên Phạm Thị Cẩm Giang đang sinh sống tại khóm An Bình, Thị Trấn Ba Chúc, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang. Hiện, vợ tôi là cán bộ quản lý môi trường theo hợp đồng công chức thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang nhưng được tăng cường về công tác tại UBND Thị Trấn Ba Chúc đảm nhiệm công tác quản lý môi trường trên địa bàn Thị Trấn Ba Chúc.

Ngày 28/04/2017 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 582/QĐ-TTg phê duyệt danh sách thôn đặc biệt khó khăn, xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2016-2020. Theo đó, UBND Thị Trấn 

Ba Chúc (có trụ sở tại Khóm An Hòa A) đã được phê duyệt theo danh sách này.

Vậy cho tôi hỏi, trường hợp làm việc như vợ tôi có được xét là đối tượng áp dụng theo Nghị định số 116/2010/NĐ-CP không?

Tôi xin cảm ơn!

Sở Nội vụ tỉnh An Giang trả lời như sau : ( 20/09/2017 )
Qua nghiên cứu, Báo cáo số 170/BC-UBND ngày 09 tháng 10 năm 2017 của Ủy ban nhân dân huyện Tri Tôn, Sở Nội vụ có ý kiến trao đổi như sau:
 
Tại điểm b khoản 1 Điều 2 Thông tư liên tịch số 08/2011/TTLT-BNV-BTC ngày 31 tháng 08 năm 2011 của liên Bộ Nội vụ và Bộ Tài chính hướng dẫn về đối tượng áp dụng chính sách của Nghị định số 116/2010/NĐ-CP như sau: “Viên chức (kể cả người tập sự, thử việc) và người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu sự nghiệp theo quy định của pháp luật, làm việc trong các đơn vị sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập)”. 

Quy định về đối tượng là “người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động” còn chung chung, chưa rõ ràng và đầy đủ nên đã gây lúng túng trong quá trình triển khai thực hiện tại nhiều địa phương. Do đó một số tỉnh đã có văn bản gửi Bộ Nội vụ xin ý kiến hướng dẫn (cụ thể là Sở Tài chính tỉnh Quảng Nam đã có Công văn 1040/STC-NS nêu một số thắc mắc trong thực hiện Nghị định 116/2010/NĐ-CP gửi Bộ Nội vụ và đã được phúc đáp cụ thể tại Công văn số 2906/BNV-TL ngày 15/8/2012, trong đó: tại khoản 1 của Công văn xác định “người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động” trong quy định nêu trên như sau: “Người lao động được ký hợp đồng làm việc theo quy định tại Nghị định số 68/2000/NĐ-CP  ngày 17/11/2000 của Chính phủ thì được hưởng chế độ theo quy định tại Nghị định 116/2010/NĐ-CP”). Như vậy, trường hợp vợ của ông Lê Minh Tân không thuộc đối tượng áp dụng Nghị định số 116/2010/NĐ-CP theo hướng dẫn của Bộ Nội vụ tại Công văn số 2906/BNV-TL.