Tìm hiểu phong cách tư duy của Hồ Chí Minh

Cập nhật : 20/12/2016 | 09:25
Phóng lớn Trở về mặc định Thu nhỏ    
(Cổng TTÐT An Giang) - Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh có nội dung phong phú, thể hiện trong toàn bộ di sản và cuộc đời hoạt động của Người; là tài sản vô giá của Đảng và nhân dân ta.

Trong đó, nội dung về phong cách Hồ Chí Minh được thể hiện trong mọi lĩnh vực sống và hoạt động của Người, tạo thành một chỉnh thể nhất quán, có giá trị khoa học, đạo đức và thẩm mỹ. Chỉ thị 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị khóa XII đã nêu các nội dung cơ bản của phong cách Hồ Chí Minh: Phong cách tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, luôn gắn chặt lý luận với thực tiễn; phong cách làm việc dân chủ, khoa học, kỹ lưỡng, cụ thể, tới nơi, tới chốn; phong cách ứng xử văn hóa, tinh tế, đầy tính nhân văn, thấm  đậm tinh thần yêu dân, trọng dân, vì dân; phong cách nói đi đôi với làm, đi vào lòng người; phong cách sống thanh cao, trong sạch, giản dị; phong cách quần chúng, dân chủ, tự mình nêu gương… Tất cả điều đó đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh thực hiện một cách hoàn hảo, trở thành một chuẩn mực hết sức phong phú và sinh động tạo nên phong cách Hồ Chí Minh. 


Hồ Chí Minh có phong cách tư duy riêng, rất độc đáo, khoa học và hiệu quả, với những đặc trưng nổi bật như:


Phong cách tư duy khoa học, cách mạng và hiện đại: Từ cách tiếp cận vấn đề một cách khoa học, gắn với yêu cầu thực tiễn và điều kiện lịch sử, Người đã vượt qua các lớp sĩ phu yêu nước tiền bối, sớm nhận thức được những vấn đề của thời đại mình. Phong cách tư duy mới đã giúp Nguyễn Ái Quốc có quyết định đi sang Phương Tây để tìm đường cứu nước. Nhờ đó, Người đã có dịp sống ở những trung tâm văn hóa – khoa học – chính trị nổi tiếng thế giới như Niu Oóc, Pari, Luân Đôn, Mátxcơva… tiếp xúc, hoạt động gần gũi với những đại diện xuất sắc của trí tuệ thời đại bấy giờ - các nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ, nhà hoạt động chính trị, cách mạng nổi tiếng… nhanh chóng trưởng thành về nhiều mặt, trong đó có tư duy biện chứng và hiện đại.


Nhờ có phong cách tư duy đó, cùng với sự cần cù, óc quan sát và suy nghĩ từ thực tiễn, Hồ Chí Minh đã tự trang bị cho mình vốn học vấn sâu rộng và chắc chắn, trở thành một trí thức tự học nhưng uyên bác về nhiều mặt. Hồ Chí Minh đã bắt kịp nhịp sống và sự phát triển của thời đại, để có thể lựa chọn đúng đường đi cho dân tộc và dự kiến được những bước phát triển mới của lịch sử.


Phong cách tư duy, độc lập, tự chủ, sáng tạo: Đó là phong cách tư duy không giáo điều, rập khuôn, không vay mượn của người khác, hết sức tránh lối mòn, tự mình tòi tìm, suy nghĩ, truy đến cùng bản chất của sự vật, hiện tượng để tìm ra chân lý, phù hợp với nhu cầu và điều kiện thực tiễn. Hồ Chí Minh không ngừng làm giàu trí tuệ của mình bằng vốn văn hóa – tư tưởn g của nhân loại. Người đã tìm hiểu, tiếp thu những yếu tố dân chủ, tiến bộ nhân văn của các học thuyết khác, theo tư tưởng chỉ đạo của V.I.Lênin “Chỉ có những người cách mạng chân chính mới hái được những điều hiểu biết quý báu của của các đời trước để lại”.


Tư duy sáng tạo của Hồ Chí Minh bắt nguồn từ sự thấm nhuần sâu sắc di huấn của các bậc thầy của cách mạng vô sản, không hề coi lý luận của C.Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm, mà phải tự mình phát triển hơn nữa, vì lý luận này chỉ đề ra nguyên lý chỉ đạo chung, còn việc áp dụng nguyên lý ấy, thì xét riêng từng nơi, ở Anh không giống ở Pháp, ở Pháp không giống ở Đức, ở Đức không giống ở Nga. Đó chính là quan điểm thực tiễn, cơ sở của sự sáng tạo.


Phong cách tư duy hài hòa, uyển chuyển, có lý có tình: Hồ Chí Minh luôn xuất phát từ cái chung, cái nhân loại, từ những chân lý phổ biến, “lẽ phải không ai chối cãi được” để nhận thức và lý giải những vấn đề thực tiễn. Tư duy Hồ Chí Minh luôn có sự kết hợp hài hòa giữa dân và nước, giai cấp và dân tộc, dân tộc và nhân loại.


Với phong cách tư duy này, Hồ Chí Minh phê phán thói “kiêu ngạo cộng sản”. Người viết “Vì chúng ta đều là con của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, chúng ta chỉ biết cách trung thành với giai cấp vô sản, quyết tâm đấu tranh cho nhân dân. Thế thôi”.


Sự hài hòa, uyển chuyển, lý tưởng và đạo đức nhân văn thể hiện  rõ trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Người. Lời kêu gọi có sức mạnh giục giã như lời hịch của núi sông, thôi thúc mọi người cầm vũ khí, đứng lên chiến đấu bảo vệ Tổ quốc nhưng lại được viết bằng lời lẽ rất hài hòa, nhân danh chính nghĩa mà chiến đấu, không hề có một chữ nào nói đến căm thù và chém giết. “Hỡi đồng bào toàn quốc! Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới; vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ... Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước. Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định sẽ về dân tộc ta!”. 


Quỳnh Anh